phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Phật giáo ở Thanh Hóa nhìn từ góc độ lịch sử Chƣơng 2: Vai trò của Phật giáo Thanh Hóa đối với đời sống sinh hoạt cộng đồng và tƣ tƣởng của nhân dân từ năm 1984 đến nay Chƣơng 3: Vai trò của Phật giáo Thanh Hoá đối với văn học - nghệ thuật của tỉnh nhà từ năm 1984 đến nay 13 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 PHẬT GIÁO Ở THANH HÓA NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ 1.1 Khái quát chung về lịch sử Phật giáo ở Thanh Hóa. Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, vào khoảng thế kỷ VI (trƣớc Công nguyên) ở miền Bắc Ấn Độ do Thái tử Tất Đạt Đa (Siddharta: 563 - 483 trƣớc công nguyên), con trai của Tịnh Phạn Vƣơng (Suđhodana) trị vì một xứ nhỏ ở trung lƣu sông Hằng là Ca Ty La Vệ (nƣớc Nê Pan ngày nay) sáng lập. Cuộc sống giàu sang nơi cung đình khiến ông không hề hay biết những gì đang diễn ra với bao bi kịch kiếp ngƣời ngoài xã hội. Cho đến khi trực tiếp đi ra ngoài thành và tận mắt chứng kiến nỗi khổ của kiếp ngƣời, Thái tử Tất Đạt Đa quyết noi gƣơng các đạo sĩ tu theo lối sống khổ hạnh.
Năm 19 tuổi, ông bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn tu. Sau 6 năm khổ hạnh, ông chợt nhận thấy rằng, lối tu đó cũng không giải thoát con ngƣời khỏi nổi đau sinh, lão, bệnh, tử. Vì theo ông, tu khổ hạnh hay chủ chƣơng khoái lạc cũng đều là những cực đoan phi lý nhƣ nhau. Bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng ông cũng đã phát hiện ra con đƣờng “trung đạo”, một con đƣờng đúng đắn nhất dẫn con ngƣời đến sự giải thoát.
Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tƣ duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã đạt đến chân lý, đã hiểu đƣợc bản chất của sự tồn tại nhân sinh và bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tăng đoàn Phật giáo. Từ đó ông đƣợc gọi là Thích Ca Mầu Ni – tức là ngƣời đã giác ngộ chân lý đầu tiên. Từ Ấn Độ, Phật giáo đã lan truyền đến nhiều châu lục, ảnh hƣởng đến đời sống văn hóa tinh thần của nhiều quốc gia. Phật giáo đƣợc truyền bá chủ yếu chia làm hai lộ tuyến là Nam truyền và Bắc truyền.
Về phƣơng Bắc thì gọi là Bắc phƣơng Phật giáo hay là Bắc tông Phật giáo; còn gọi là Đại thừa Phật giáo hay Phật giáo phát triển phái đại chúng bộ, gồm có các nƣớc và các vùng miền, lãnh thổ nhƣ: Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Mãn Châu, Cao Ly, Nhật, Việt Nam. Kinh điển chủ yếu là chữ Phạn (Sanskrinit). Về phƣơng Nam thì gọi là Nam phƣơng Phật giáo 14 z hay Nam tông Phật giáo, còn gọi là Tiểu thừa Phật giáo, hay Phật giáo Nguyên thủy, phái thƣợng tọa bộ, gồm có các nƣớc và các vùng miền, lãnh thổ nhƣ: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, Nam Dƣơng… kinh điển chủ yếu là chữ Pali (Palit). Trong quá trình truyền bá, đạo Phật đã kết hợp với tín ngƣỡng, tập tục, dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều trƣờng phái và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo sử sách thì Phật giáo truyền bá vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên, theo hai con đƣờng: đƣờng thủy và đƣờng bộ. Đƣờng thủy bắt đầu từ Ấn Độ, theo các thuyền buôn dọc theo Nam Dƣơng đến bán đảo Đông Dƣơng ngày nay, rồi vào Việt Nam. Đƣờng bộ thông qua các nhà sƣ Ấn Độ đến Bắc Trung Quốc và qua Triều Tiên, vào Nhật Bản và xuống nƣớc ta. Chuyện cổ tích Chữ Đồng Tử học đạo của một nhà sƣ Ấn Độ, các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Ma Nƣơng Phật Mẫu xuất hiện cùng thời với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189 đã minh chứng cho dấu ấn của đạo Phật thời kỳ đầu truyền bá tại Việt Nam.
Cho đến khoảng thế kỷ thứ II (sau công nguyên), nƣớc ta đã hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay) là trụ sở Phật giáo quan trọng và lớn nhất của cả nƣớc. Hòa cùng dòng chảy của cả nƣớc, Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa cũng rất sớm, dung hội cả Bắc Tông (Đại thừa) và Nam Tông (Tiểu thừa). Từ buổi đầu du nhập, Phật giáo đã hòa quyện cùng với sắc thái văn hóa xứ Thanh, tạo cho Phật Giáo Thanh Hóa có những sắc thái riêng, dung hội các dòng tƣ tƣởng và tín ngƣỡng địa phƣơng, nhƣng không làm biến dạng những nét riêng có trong Hoằng Dƣơng Phật pháp của Phật giáo. Đối với sự du nhập của Phật giáo ở Thanh Hóa, hiện nay chƣa có tài liệu nào nói chính xác mốc thời gian Phật giáo có mặt tại nơi đây.
Nhƣng qua sử sách ghi chép lại, qua các văn bia ở chùa cổ thời Lý, Trần và qua sự phân tích các dấu viết liên quan đến Phật giáo thời kỳ đầu có mặt trên đất Thanh Hóa, chúng ta có thể khẳng định rằng Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa từ những thế kỷ đầu sau công 15 z nguyên. Thời kỳ này, Thanh Hóa chịu ảnh hƣởng trực tiếp Phật giáo từ Ấn Độ sang thông qua đƣờng biển. Các nhà sƣ Ấn Độ đã theo chân các thuyền lái buôn đi dọc bờ biển Nam Dƣơng đến bán đảo Đông Dƣơng, và Thanh Hóa là một trong những địa điểm dừng chân của các nhà sƣ Ấn Độ để truyền đạo. Điều này đƣợc minh chứng qua hai dấu tích liên quan đến Phật giáo buổi đầu du nhập vào Thanh Hóa đó là vết chân Phật ở đền Độc Cƣớc và đặc trƣng những tƣợng ngƣời đƣợc tìm thấy ở Lạch Trƣờng ( huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa).
Đền Độc Cƣớc nằm trên mỏm Cổ Giải dãy Trƣờng Lệ (Sầm Sơn, Thanh Hóa) và thờ vị thần chỉ có nửa ngƣời bên phải, chỉ có một mắt, một tay, một chân (gọi là thần Độc Cƣớc). Theo truyền thuyết vị thần này đã tự xé mình làm hai phần, nửa ở dƣới biển đánh bọn cƣớp biển, còn nửa kia để trên bờ đánh bọn cƣớp cạn để cứu nhân dân. Thực ra vị thần này đã đƣợc đƣa vào Phật Điện thờ cúng nhiều nơi. Trong một bản Diên Quang tam Muội Tạo Tƣợng, đã xếp thần Độc Cƣớc vào hàng cuối cùng trong Phật điện.
Trong tám đạo sắc hiện có ở Độc Cƣớc Sơn từ năm 1783 – 1924, đã phong Độc Cƣớc Tiêu Thần, Độc Cƣớc tiêu thƣợng đẳng thần, Độc Cƣớc chi Thần. Nói về mối quan hệ giữa thần Độc Cƣớc với Phật giáo, Ban nghiên cứu Lịch sử Thanh Hóa đã nhận định: “Mối liên hệ giữa thần Độc Cƣớc ở Thanh Hóa với Phật giáo là ở chỗ khi truyền Phật giáo vào Việt Nam, các nhà sƣ Ấn Độ đã thờ thần một bàn chân biểu thị cho Đạo, diễn ra trong các năm 36, 37, 84, 159, 183…” [1, Tr. Để chứng minh vấn đề này, chúng ta ngƣợc dòng lịch sử sẽ thấy, thiết chế của đạo Phật ở Việt Nam ban đầu chƣa phải là chùa chiền, tƣợng pháp mà khởi đầu việc thờ Phật bắt đầu từ thờ dấu chân Phật Tổ. Điều đó còn truyền lại câu chuyện nhà sƣ Cà Sa Đồ Lê ở chùa Dâu (Bắc Ninh) dựng một chân giảng kinh kệ và xoay mình theo hƣớng mặt trời.
Tục thờ thần Độc Cƣớc chính là ảnh xạ của tục thờ dấu chân của Đạo Phật. Những di vật đƣợc tìm thấy ở Lạch Trƣờng, Hậu Lộc (Đây là một trong những cửa biển lớn của khu vực Bắc Trung bộ, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế chính trị sầm uất của một vùng xứ Thanh xƣa kia), đặc biệt là “cây đèn đồng Lạch 16 z Trƣờng” đƣợc nhà khảo cổ học Thụy Điển, ông O. Janse tìm thấy năm 1935, trong một ngôi mộ gạch có niên đại vào những thế kỷ đầu Công nguyên. Cây đèn đồng này có một đặc điểm kỳ lạ là: Vừa là đèn, vừa là tƣợng mang dáng vẻ của một ngƣời đàn ông, nhƣng hình dáng của ngƣời đàn ông này lại không giống với hình dáng của ngƣời đàn ông Việt xƣa nay, mà giống với ngƣời đàn ông ở các vùng Trung Á hay Ấn Độ, với các đặc điểm nhƣ: Râu quai nón, mái tóc hình xoáy ốc, sống mũi nổi cao, môi trễ, rốn lồi… Theo lý giải của ông Janse, nhân vật chính của cây đèn hình ngƣời quỳ này thiếu đi tất cả đặc điểm của ngƣời Trung Hoa mà mang đặc điểm của Phật Buddha của Ấn Độ.
Sự hiện diện của các di vật này là minh chứng lịch sử cho sự diễn ra một cơ tầng Việt Ấn đậm nét trong giai đoạn đầu Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa. Bên cạnh đó, thông qua các dữ liệu lịch sử đƣợc ghi chép trong sử sách, văn bia…thì từ thế kỷ thứ VII trở đi, Ái Châu (tên gọi của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn đầu) nói riêng và Giao Châu nói chung đã bắt đầu du nhập hai phái Thiền tông của Phật giáo Trung Quốc, đó là phái Nam Phƣơng và phái Quan Bích. Hai phái Thiền tông này là cơ sở chủ yếu của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ độc lập sau này. Theo nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn thì sƣ Pháp Hiền ( ? – 626, thuộc đời Đƣờng của Trung Quốc) đã “đi giảng đạo, dựng chùa khắp mọi nơi ở Phong Châu (Sơn Tây) Hoan Châu (Nghệ An), Tràng Châu (Ninh Bình) và Ái Châu (Thanh Hoá)”.
Đồng thời, theo Thiền uyển tập anh ngữ lục, thì sƣ Pháp Hiền, đệ tử của phái Nam Phƣơng, cũng đã cho xây nhiều tháp ở các chùa tại Trƣờng Châu, Ái Châu (Thanh Hoá)…để đựng 5 hoàn xá lị Phật do Tùy Cao Tổ ban sang. Cuốn Đại Đường cầu pháp cao tăng truyện của tác giả Nghĩa Tĩnh, có ghi tên 6 vị sƣ Việt Nam từng sang Ấn Độ cầu pháp thỉnh kinh, trong đó có hai vị sƣ quê ở Ái Châu là Pháp sƣ Trí Hành và Thiền sƣ Đại Thặng Đăng. Hai vị sƣ này đều thông hiểu chữ Phạn, có phạn danh và bƣớc chân của họ đã trải dài từ Trung Hoa đến Ấn Độ. Pháp sƣ Trí Hành tên phạm là Prajnadeva, đã từng xuống Nam Hải đến nƣớc Ấn Độ, hoạt động truyền bá ở phía Bắc Hằng Hà và mất ở chùa Tính Giả vào khoảng năm 50 tuổi.
Thiền sƣ Đại Thặng Đăng có tên phạm Mahayana- Pradija, thủa bé theo cha 17 z mẹ đi thuyền đến lƣu vực sông Menam rồi mới xuất gia. Sau theo sứ nhà Đƣờng là Diễn Tự vào kinh đô nhà Đƣờng học đạo với tam tạng Pháp sƣ Huyền Trang (đời Đƣờng Thái Tông 627- 649).