Chương 1: Không gian phân bố và hiện trạng bia tượng Hậu thé ki 17- 18 ở Hà Nội Chương nay sẽ mô tả không gian phân bố của bia tượng Hậu thé ki 17-18 ở Hà Nội, phân tích mật độ, xu hướng lan tỏa của loại hình bia tượng Hậu theo không gian và thời gian. Khu vực nội thành Hà Nội bia tượng Hau it 61 nhưng khá đẹp về ngoại hình. Khu vực Ha Tây cũ là nơi tập trung bia tượng Hậu với mật độ dày, đặc biệt là khu vực ven sông Day. Về hiện trạng, phần lớn bia tượng Hậu hiện nay được đặt ở phía sau Tam Bảo, một số ít được đặt ở hai bên hành lang bên cạnh La Hán, một số đặt ở sân chùa, có hoặc không có mái che.
Những bia đặt ở trong chùa hầu hết hoặc gan chat vào tường bang voi vữa, xi mang hoặc dé rat sat tường, khiến việc đọc nội dung mặt sau trở nên bất khả thi. Chương 2: Đặc trưng Bia tượng Hậu trên địa bàn Hà Nội thé ki 17-18 Chương này tiễn hành phân loại bia tượng Hậu thé ki 17-18 ở Hà Nội thành các loại dựa trên các đặc điểm về loại hình: hình dáng, kết cấu, kích thước, hoa văn. từ đó làm rõ mối liên hệ giữa đặc điểm loại hình bia với các yếu tô niên đại, không gian, người được lập Hậu, số tiền công đức. Đồng thời, tác giả cũng làm rõ các đặc điểm về nghệ thuật tiếu tượng bao gồm các đặc điểm về nhân diện và đặc điểm về trang phục của người được lập Hậu thê hiện trên bia tượng.
Bên cạnh đó, chương này cũng phân tích các đặc điểm nồi bật về hoa văn trang trí, các đồ án được sử dụng và ý nghĩa của chúng trong lịch sử mỹ thuật. Từ đó, phần nào làm nồi bật những đặc trưng cua bia tượng Hậu thế kỉ 17-18 ở Hà Nội với các loại bia tượng Hậu cùng thời ở các địa phương khác. Chương 3: Các van dé lịch sử-xã hội thông qua bia tượng Hậu thé kỉ I7- 18 ở Hà Nội Qua việc phân tích nội dung bia Hậu, luận văn tiễn hành xử lí thông tin băng các phương pháp thống kê, so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến tục lập Hậu ở làng xã Hà Nội thế kỉ 17-18. Trên cơ sở nhìn nhận bản chất bia Hậu là một dạng khế ước, nội dung của bia sẽ được phân tích trên các phương diện sau: Một là, các đối tượng tham gia thủ tục bầu Hậu, bao gồm: người công đức, người được bầu Hậu, cơ sở tín ngưỡng được lựa chọn dé công đức, số lượng tài sản cung tiễn và người thụ hưởng tài sản.
Hai là, việc thực hiện cam kết giữa các bên, quyền và nghĩa vụ của các đối tượng tham gia việc bầu Hậu được thể hiện qua nội dung văn bia, cũng như việc thực hiện cam kết này trong lịch sử và hiện trạng ngày nay. Ba là, nguồn gốc, ý nghĩa của phong tục lập Hậu và tác động của nó đến đời sống xã hội làng xã Hà Nội xưa. Lập Hậu là một hình thức cao hơn của công đức, có thé tiến hành khi cơ sở thờ tự bị hư hỏng, xuống cấp, thiên tai tàn phá.cần được xây dựng lại, đây là một hình thức huy động tài chính cổ điền. Tục lập Hậu ngày nay có còn tồn tai hay không và tồn tại theo hình thức nào? CHUONG 1: KHÔNG GIAN PHAN BO VÀ HIỆN TRẠNG BIA TƯỢNG HẬU THE KỶ 17-18 TREN DIA BAN HÀ NOI 1.
Khéng gian phân bố Địa bàn Thủ đô Hà Nội hiện nay được hình thành theo Nghị quyết sỐ 15/2008/QH12 ngày 29 tháng 05 năm 2008 điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội như sau: Hợp nhất toàn bộ tinh Hà Tây vào thành phé Hà Nội, hợp nhất toàn bộ huyện Mê Linh tinh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội, hợp nhất 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình về thành phố Hà Nội. Sauk hi điều chỉnh, địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội hiện nay bao gồm các quận Hoàn Kiếm, Đống Da, Ba Dinh, Hai Ba Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên, Thanh Xuân, các huyện Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Gia Lam, Thanh Trì, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch That, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Mê Linh, các thành phố Hà Đông, Sơn Tây và các xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung. Sự thay đổi địa giới hành chính nhiều lần trong lich sử dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc kiểm kê bia tượng Hậu ở Hà Nội. Nhiều khu vực ngày nay thuộc Hà Nội thì vào thời Lê lại là một phần của khu vực khác như Gia Lâm thuộc phủ Từ Sơn, Mê Linh thuộc phủ Tam Doi, Từ Liêm thuộc phủ Quốc Oai, Thanh Trì thuộc phủ Thường Tín.
Hà Đông và Thanh Oai thuộc phủ Ứng Thiên. tác gia) 10 Nhiều quận hiện tại là quận nội thành cũng không thể tính vào phủ Trung Đô thời Lê mà phải tính là khu vực ngoại thành. Trường hợp làng Nành có 9 bia tượng nhưng lại thuộc 2 xã khác nhau vào thời Lê là Phù Ninh (4 tắm) và Ninh Giang (5 tắm). Số lượng bia tượng Hậu được phát hiện trên địa bàn Hà Nội tính đến hiện tại là 42 tắm thuộc 23 di tích, tat cả đều là bia Hậu Phật.
Nhìn trên bản đồ phân bố, có thê nhận thấy rất rõ các di tích này đều nằm dọc hai bên bờ của ba con sông lớn là sông Hồng, sông Nhuệ và sông Day (thực tế hai sông Nhuệ và sông Day cũng là nhánh của sông Hồng) trong đó tập trung với mật độ lớn nhất là lưu vực ven sông Đáy (Bản đồ 1). Đây là vùng đất có vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam thế kỉ 17-18 gắn liền với hành trạng của một số nhân vật tiêu biểu như Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sỹ, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Công Triều, Đỗ Bá Phẩm.là khu vực tụ cư có lịch sử lâu đời. Di tích phân bố đồng đều nhưng số lượng bia tượng Hậu ở mỗi di tích lại có sự chênh lệch khá lớn. Số lượng phổ biến nhất là từ 1-3 bia tượng Hậu trong mỗi di tích, cá biệt có một số chùa tập trung rất nhiều bia tượng Hậu như chùa Quang Khánh (Thường Tin) 9 tắm, chùa Dai Bi (Gia Lâm) 6 tam.
Ti lệ bia tượng Hậu luôn nhỏ hơn bia Hậu trong tat cả các di tích kể cả với các chùa nhiều bia tượng Hậu nhất như chùa Quang Khánh là 9/33, chùa Đại Bi là 6/14, chùa Linh Ứng (Thạch That) là 3/9. Điều đó cho thay không phải ai cúng Hậu cũng được tac tượng mả ton tại những tiêu chuẩn khắt khe hon trong việc lựa chọn. 11 Quốc Oai 95% | Tây Hỗ 2,4% Nam Từ Liêm 2,4%. Gia Lam Thach That 40,5% Thanh Oai Thường Tin _ 4,8% 238% Hoàng Mai 24% Hoài Đức 2,4% Biểu đồ 1: Số lượng bia tượng Hậu theo khu vực hành chính hiện tại.
(Nguôn: Tác giả) Tính theo địa giới hiện tại, Gia Lâm là nơi tập trung nhiều bia tượng Hậu nhất với 13 tắm, tiếp theo là Thường Tin 11 tắm, Đan Phượng 5 tam, Thạch Thất 5 tam. Những nơi tập trung bia tượng Hậu nhất đều không thuộc trung tâm Hà Nội mà dat về các vùng ven (Biéu đồ 1). Nếu tinh theo địa giới hành chính của thé ki 17-18, trung tâm của thành Thăng Long xưa chỉ xuất hiện 1 tắm chiếm 2 %, 12 tam thuộc phủ Từ Sơn chiếm 23.5%, còn lại phân bó đều trên địa bàn tinh Hà Tây bao gồm các phủ Thường Tín, phủ Quốc Oai và phủ Ứng Thiên. Đây cũng là địa điểm tập trung những tam bia tượng Hậu vào loại sớm nhất của khu vực (Biéu đồ 2).
Sự chênh lệch này đường như phản ảnh một tư duy khá phô biến của người Việt từ xưa đến nay, đó là “lá rụng về cội”. Dù sinh sống làm việc ở đâu thì xu hướng nhất quán vẫn là mong muốn trở về quê hương bản quán lúc cuối đời (5/42 bia). Toàn bộ những tam bia còn khảo được nội dung đều thể hiện việc người được lập Hập là người làng hoặc sinh ra từ làng. Những người cúng Hậu có hai động cơ chính: một là đóng góp tiền bạc, tài sản để xây dựng cho làng xã, hai là đảm bảo việc hương hỏa cho mình sau khi chết.
Cả hai động cơ đó đều giải thích cho việc 12 vì sao người có tiền của lại lựa chọn gửi Hậu tại nguyên quán. Có những trường hợp người làm quan ba triều vua, cả đời sống ở kinh đô nhưng vẫn gửi hậu về nguyên quán như Phú quận công Thạch Anh Nghị ở chùa Nành (Gia Lâm), đồng thời cũng có những vị cung tần sống bên cạnh vua, chúa về gửi hậu nơi quê nhà như bà Trần Thị Tốt được lập Hậu tại chùa Dai Từ (Hoàng Mai). Phủ Ứng Thiên Phủ Trung Đô Phủ Tam Ddi_ 8% 4% 2% Phủ Thường Tín 27% Phủ Quốc Oai 35% Phủ Từ Sơn 24% Biểu đô 2: SỐ lượng bia tượng Hậu theo khu vực hành chính thé ki 17-18. (Nguồn: Tác giả) Sự phân bố chênh lệch này còn thể hiện một hiện tượng chung của các đô thị kiểu Á Đông, đó là đô có trước thị.
Rất khó đề tồn tại một tầng lớp thị dân sinh song lâu đời tại Thăng Long mà chỉ có các lớp người đến va đi theo các biến cố triều đại. Kinh đô thành lập kéo theo các dong người tứ xứ dé về tụ cư tạm thời, khi về già hoặc chết dòng người này lại phân tán về các địa phương bên ngoài. Ngay cả Hoang dé cũng đặt lăng của minh ở đất phát tích chứ không đặt ở Thăng Long. Một phần quan trọng đó là các chùa ở Kinh đô có ít nhu cầu về tài sản, ruộng đất hơn do nằm trên đất đai của hoàng gia, bởi vậy cũng không cần nhận tiền gửi Hậu nhiều.
Điều đó giải thích cho sự it ỏi của bia Hậu nói chung và bia tượng Hậu nói riêng ở khu vực phủ Trung Đô. Về niên dai, tam bia tượng Hậu sớm nhất được xác định niên đại là tam bia Hậu của bà Nguyễn Thị Ngọc Liêu ở chùa Thầy có niên đại 1652. Hai tắm bia cũng ở chùa Nành có niên đại liên tiếp nhau là tắm bia bà Doãn Thị Ngọc Đại 1672 và tắm bia Minh Châu công chúa hậu Phật hậu Thanh bi kí 1673. Trong khi đó, những tắm bia muộn nhất được xác định là tắm bia bà Nguyễn Thị Thỏ chùa 13 Linh Ứng có niên đại 1772.
Như vậy, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ trong 120 năm. Về giới tính, tỉ lệ giới tính của các thành phần được bầu Hậu trên toàn địa bàn Hà Nội là 27% nam và 73% nữ.