CHƯƠNG 1: TONG QUAN CHUNG 1. Một số khái niệm cơ bản Từ khoảng đầu công nguyên, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam theo dấu chân của các thương nhân An Độ. Gắn liền với sự du nhập va phát triển của Phật giáo ở Việt Nam là sự ra đời của các ngôi chùa. Chùa là kiến trúc tôn giáo thờ Phật, phân biệt với đèn, miéu hay nhà thờ chỉ nơi thờ các vi thần trong tín ngưỡng và các tôn giáo khác.
Cùng với chùa, kiên trúc Phật giáo Việt Nam còn ghi nhận vai trò và chức năng của tháp và am. Chùa Theo Tir điển Bách khoa Việt Nam, chùa là nơi thờ Phật, nơi cầu kinh lễ Phat của tín đồ một làng hay một vùng. Bố cục mặt bằng thường theo chữ Hán: chữ nhất, chữ nhị, chữ tam, chữ đinh, chữ công hoặc nội công ngoại quốc bao gồm tiền đường, thiên hương và thượng điện [125, tr. Từ điển Phật học định nghĩa, chùa là nơi thờ Phật, phô biến ở các nước Đông và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam.
Chùa có nhiều chỗ giống với tháp tại An Độ (stupa), là nơi cất giữ xá li, thường có nhiều tháp bao xung quanh. Những tháp này là chôn cất các đại sư [26, tr. Bỏ qua những khác biệt về cách dùng câu chữ trong định nghĩa, cả Ti điển Bách khoa Việt Nam và Từ điển Phật học Đạo Uyên đều thống nhất trong việc xác định bản chất của chùa là nơi thờ Phật, thuộc về kiến trúc Phật giáo. Về nguồn gốc của từ chùa tồn tại nhiều giả thuyết khác nhau.
Có giả thuyết cho rằng, từ chùa bắt nguồn từ từ “thupa” (tiếng Pali) hay “stupa” (Sanskrit) của Ấn Độ, do chùa Việt Nam ban đầu có dạng tháp. Theo thời gian, từ thupa hay stupa bị rút ngắn chỉ còn lại “thu” hay “stu” và từ đó trở thành từ chùa [212, tr. Lại có giả thuyết cho rằng, chùa xuất phát từ danh từ Caitya, âm Hán Việt là chi đề, chỉ nơi dé xá lợi, kinh sách hay hình tượng của Phật. Caitya thường kết hợp với “vihara” (tỳ ha la), tức nơi ở, nơi sư tăng dừng chân thành một quan thé kiến trúc phức hợp [83].
Tháp Theo sách Từ điển Phật hoc, tháp (stùpa hay thupa) dịch nguyên âm là tháp bà, dịch nghĩa là cao hiển xứ, miếu, linh miếu, cũng được gọi là bảo tháp. Đây là kiến trúc 11 Phật giáo đặc trưng cho chùa chiền thánh tích đạo Phật và là nơi đựng xá li của các vi Phật hoặc các bậc thánh hoặc là nơi đựng kinh điển, tranh tượng [26, tr. Sách Tir điển Phật học Hán Việt cho rằng, tháp (stupa) còn gọi là tháp bà, đậu bà, thân bà, phù đồ. đều là gọi tắt của từ tiếng Phạn stupa (Tốt đồ ba), xếp đất đá lên cao đề cất giữ hài cốt vào đó còn gọi là câu la, dịch là tụ tập, nghĩa là phần mộ của cao tổ, hiển khảo hay linh miếu.
Hoặc nhiều khi tháp cũng gọi là chi đề (chế đề) [251, tr. Theo Phat Quang dai từ điển, chi đề có nghĩa là tích tập, còn dịch là tụ tướng. Nguồn gốc của nó bắt nguôn từ việc khi hỏa táng đức Phật, người ta tích tụ củi thơm thành đồng to. Về sau tại các nơi linh tích của Đức Phật, người ta xếp đất gạch thành đống cao to và bảo đức phúc vô lượng của đức thế tôn tụ tập tại đó, cho nên hễ nói đến tháp miéu, linh miéu, miéu, mộ phan.
đều gọi là chi đề. Còn tháp (Stùpa) dich âm là tốt đồ ba khác với chi đề. Theo luật Ma ha tăng kỳ, ở trong có đặt xá lợi là tháp, không có xá lợi là chi đề. Nhưng đời sau dùng lẫn lộn với nhau [178, tr.
Sách Tir điền Bách khoa Việt Nam định nghĩa, tháp là kiến trúc Phật giáo, là nơi đựng tro di hài của Phật hay của sư tổ trụ trì chùa, bắt nguồn và biến thé từ kiến trúc stupa ở Ấn Độ [125, tr. Từ các định nghĩa trên cho thấy, tháp là công trình kiến trúc của Phật giáo được xây dựng đề chứa, dé thờ xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mau Ni và các chư Phật và sư tổ trụ trì các chùa hoặc là nơi đựng kinh điển, tranh tượng, song ở Việt Nam tinh chất tháp mộ tiêu biểu hơn. Am Am có nguồn gốc và xuất hiện rất sớm tại Trung Quốc. Am là những lều cỏ (thảo am) được con cái dựng lên dé trông coi mô ma cha me sau khi chôn cất.
Về sau, am lợp lá mái chéo hoặc mái tròn dùng làm nơi ở và đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường (Trung Quốc), am còn là nơi thờ Phật của ni cô, đặt ở trong vườn tư gia. Theo tín ngưỡng Việt Nam, am là nơi thờ Phật, là miéu thờ thần linh ở các bản, làng hoặc miếu cô hồn (ở các bãi tha ma) [125, tr. 37] nhưng phổ biến nhất là am gắn liền với Phật giáo.
Am là những ngôi nhà thô sơ, quy mô nhỏ xuất hiện trước khi có chùa. Sách Cổ châu pháp vân phật bản hạnh kê rằng: Khâu Đà La lập am dưới gốc cây đa [212, tr. Trong nhiều thế kỷ về sau tuy Phật giáo phát triển mạnh nhiều ngôi chùa quy mô được xây dựng song am vẫn đóng vai trò quan trọng đôi với sự tu tập của nhiêu thiên sư, tăng sư. Thiên sư Từ Đạo 12 Hạnh tu ở Hương Hải am; tại Yên Tử, các pháp tăng đầu tiên tu tại am Tử Tiêu.
Dưới thời Trần, kiến trúc am được nhắc đến nhiều lần. Vua Trần Thái Tông có bài thơ Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn (Gửi sư Đức Sơn ở am Thanh Phong); Trần Nhân Tông xây Ngự Dược am trên núi Yên Tử hay dạy Tuệ Ngữ Đại Lục cho Pháp Loa tại am Quán Trú (1307) va giảng Truyền Dang Lục (7/1308) tại am Tử Tiêu. Sau này khi Nhân Tông mat, một phan tro cốt được an trí tại bảo tháp ở am Ngọa Vân. Từ đời Lê (thé ky XV), am còn chỉ lều cỏ ở chốn thanh tịnh dé văn nhân đọc sách, làm thơ phú như am Nguyễn Binh Khiêm.
Không gian miền núi thời Lý - Trần Lãnh thé nước Việt Nam hiện đại là sự hợp nhất của vùng đất, vùng nước và vùng trời. Trong đó, nếu nhìn vào dai đất hình chữ S chạy dọc trục Bắc - Nam, thì dé nhận thay rằng nó được hợp thành bởi hai khối địa hình chính là núi, cao nguyên và đồng bằng. Nhưng hình dang chữ S của lãnh thé Việt Nam hiện nay không phải là bat biến từ thời kỳ lập quốc mà là kết qua của các tiến trình lịch sử lâu dai trong lich sử dân tộc. Các tiến trình lịch sử đó không chi làm thay đổi không gian lãnh thé theo thời gian mà còn đưa đến sự thay đổi trong góc nhìn/cách tiếp cận về các khu vực địa lý nhất định, như trong trường hợp nhận dạng vê khu vực miên núi thời Ly - Trân.
Đến cuối đời Trần, lãnh thổ nước Đại Việt được mở rộng đến vùng Thuận Hóa, về đại thể tương đương từ khu vực Thừa Thiên Hué ngày nay ngược ra bắc. Và theo sự phân vùng địa lý theo điều kiện tự nhiên hiện nay, không gian lãnh thé này được chia ra thành nhiều khu vực khác nhau: vùng núi Đông Bắc, vùng núi Tây Bắc, đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, vùng núi Trường Son Bắc, dai đồng bằng ven biển miền Trung Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình - Trị - Thiên. Tuy thuộc nhiều phân vùng địa lý khác nhau, song sự phân chia này tự thân nó đã vạch rõ ra hai khu vực riêng biệt: miền núi và đồng bằng. Sử dụng cách phân chia thành các khu vực địa lý rồi áp vào lãnh thổ nước Đại Việt thời Lý - Trần cho phép chúng ta có một hình dung tổng quan rõ ràng về không gian miền núi thời kỳ này.
Song có độ chênh nhất định trong quan niệm về khu vực miền núi thế kỷ XI-XIV với quan niệm về miền núi thời kỳ hiện đại. Có một số địa phương hiện nay được xếp vào khu vực đồng bang va trung du như Vĩnh Phúc, Phú Tho nhưng ngày xưa thuộc khu vực ngoại vi 13 do vậy nó cũng năm trong phạm vi nghiên cứu của đê tài này. Và khu vực miên núi thời Lý - Trân được nói đên trong đê tài, được hiệu là khu vực miên núi phía Bac ngày nay, chứ chưa thê đạt được sự tiép cận rach roi va bao trùm toàn bộ theo cách phân vùng miên núi thời kỳ hiện đại. Cho dù là vậy thì việc xác lập một cái nhìn tổng quan vẫn là cần thiết.
So với sự đóng khung khu vực miền núi thời kỳ hiện đại, miền núi thời Lý - Trần lại thé hiện tính chất “động” (chi sự biến động, thiếu 6n định) hơn nhiều. Khu vực miền núi ứng với vùng Đông Bắc, Tây Bắc hiện nay, nhất là thời kỳ đầu của nhà Lý về cơ bản vẫn là vùng đất tự trị của các tộc người thiểu số, ảnh hưởng của chính quyền trung ương tại đây rất hạn chế. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời Lý, một số nhà nghiên cứu nước ngoài đã cho rằng nhà Lý thực chất chỉ là một chính quyền địa phương, nhà nước chỉ thực thi được quyền lực tại khu vực đồng bằng châu thé. Song tình hình thật sự không tệ đến vậy, nhà Lý trên cơ sở thực hiện kết hợp nhiều biện pháp như đánh dẹp, phủ dụ, ban quan tước, gả công chúa đã loại bỏ được ảnh hưởng của Nam Chiếu, hạn chế tác động của nhà Tống, thiết lập lại trật tự, gây dựng và duy trì được tầm ảnh hưởng của mình tại đây.
Nhà Trần về cơ bản tiếp tục kế thừa các thành tựu mà nhà Lý đã đạt được. Theo Tạ Chí Đại Trường, tiến trình thành lập Đại Việt thời Lý - Trần, ngoài phần bành trướng về phía Nam, còn là sự ghép lại các mảnh vỡ của An Nam Đô hộ phủ [225, tr. 175] Tuy vậy, việc chính quyền trung ương chưa thiết lập được một hệ thống hành chính thống nhất từ trên xuống dưới, phải thiết lập quyền cai trị gián tiếp thông qua vai trò của các thủ lĩnh địa phương; đồng thoi, tâm thức tự tri dai dang của các tộc người cộng với loi dụng sự hiểm trở của tự nhiên nên khu vực này vẫn hay xảy ra các cuộc phản loạn chống lại chính quyền trung ương hoặc dâng đất ngả theo nhà Tống tạo nên các bất ôn thường xuyên. Hơn nữa nhiều vùng thuộc khu vực Tây Bắc hoàn toàn vẫn nằm ngoài phạm vi lãnh thô Đại Việt, các nhà nước Lý - Tran chỉ gây được ảnh hưởng qua việc bat công nạp.