Chương 1 SỰ PHÂN BỐ VĂN BIA ĐÌNH THỪA THIÊN HUẾ Để tìm hiểu, nghiên cứu về nội dung và hình thức cũng nhƣ những giá trị văn hoá, lịch sử đƣợc phản ánh qua hệ thống văn bia đình Thừa Thiên Huế, trƣớc tiên, chúng ta phải tìm hiểu nghiên cứu về sự phân bố của nó. Muốn đạt đƣợc mục tiêu đó, cần phải tìm hiểu về lịch sử địa lý cùng với những giá trị văn hoá đƣợc truyền lƣu cho đến ngày nay. Bởi những yếu tố này, có ảnh hƣởng sâu sắc đến quá trình tạo tác văn bia đình Thừa Thiên Huế. Tìm hiểu lịch sử địa lý và hệ thống đình làng Thừa Thiên Huế I.
Khái lược địa lý, lịch sử, văn hoá I. Vị trí địa lý Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở Bắc duyên hải miền Trung Việt Nam, bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý nhƣ sau: Điểm cực Bắc: 16.023'48'' kinh Đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hƣơng, huyện Phong Điền. Điểm cực Nam: 15.041'52'' kinh Đông ở đỉnh núi cực Nam, xã Thƣợng Nhật, huyện Nam Đông.
Điểm cực Tây: 16.000'56'' kinh Đông tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lƣới. Điểm cực Đông: 16.012'57'' kinh Đông tại bờ phía Đông đảo Sơn Trà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc. Thừa Thiên - Huế tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị ở phía bắc, với thành phố Đà Nẵng ở phía Nam, với CHDCND Lào ở phía Tây và với biển Đông. z 7 Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.053,99 km2, chiếm hơn 1,5% diện tích toàn quốc, với số dân là 1.134 ngƣời (01/04/1999), bằng 1,37% dân số nƣớc ta.
Hành chính Sau khi đất nƣớc tái thống nhất, vào tháng 6 - 1976 tỉnh Bình Trị Thiên đƣợc thành lập trên cơ sở hợp nhất các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Trong kì họp thứ 5 của quốc hội khóa 8 vào tháng 6 - 1989, tỉnh Thừa Thiên - Huế đƣợc tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên. Khi đó, Thừa Thiên - Huế gồm các đơn vị hành chính sau: thành phố Huế và các huyện: Hƣơng Điền, Hƣơng Phú, Phú Lộc và A Lƣới. Hiện nay, Thừa Thiên - Huế bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh (Huế), 1 Thị xã Hƣơng Thuỷ và 7 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hƣơng Trà, Phú Vang, Phú Lộc, Nam Đông, A Lƣới) với 122 xã, 20 phƣờng (thuộc thành phố Huế), 4 phƣờng (thuộc Thị xã Hƣơng Thuỷ) và 7 thị trấn huyện lỵ: Phong Điền (huyện Phong Điền), Sịa (Quảng Điền), Tứ Hạ (Hƣơng Trà), Thuận An (Phú Vang), Phú Lộc (Phú Lộc), Khe Tre (Nam Đông), A Lƣới (A Lƣới).
Cư dân Sau khi tách tỉnh, vào năm 1990 dân số của Thừa Thiên - Huế là gần 90,1 vạn ngƣời. Đến năm 1999 dân số trung bình đã là 1.049,460 ngƣời, đứng thứ 31 trong số 61 tỉnh, thành của cả nƣớc. Ngƣời Kinh chiếm khoảng 97% dân số của toàn tỉnh và là lực lƣợng chủ đạo trong công việc phát triển kinh tế - xã hội. Địa bàn cƣ trú chủ yếu là thành phố Huế và các huyện ven biển.
Một số bộ phận ngƣời Kinh cũng định cƣ ở Nam Đông, A Lƣới (phần nhiều là sau năm 1975). Sinh sống trên lãnh thổ Thừa Thiên - Huế còn có một số dân tộc thiểu số nhƣ: Bru - Vân Kiều, Cơ - tu, Ta - ôi chiếm đại bộ phận (trên 90% số dân của z 8 các dân tộc thiểu số trong tỉnh). Địa bàn cƣ trú của họ hầu hết ở khu vực đồi núi. Tƣơng tự nhƣ Quảng Bình, Quảng Trị, ngƣời Bru - Vân Kiều ở Thừa Thiên - Huế là dân tộc có nguồn gốc bản địa.
Họ cƣ trú trong các bản (Vil hay Vel) với hoạt động kinh tế chủ yếu là làm nƣơng rẫy. Ngƣời Cơ - tu cũng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, cƣ trú ở các huyện A Lƣới, Phú Lộc với một số tên gọi khác nhau (Ca - tàng, Ca - tu, Kha - tu…). Họ sống thành từng bản, mỗi bản có khoảng 15 - 30 nóc nhà sàn; làm rẫy theo phƣơng thức phá rừng, chọc lỗ tra hạt. Nghề thủ công có dệt, đan lát.
Ngƣời Cơ - tu theo chế độ phụ hệ, có sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú nhƣ hát Tơ Len và có nhiều truyện cổ đƣợc truyền tụng. Ngƣời Tà - ôi chủ yếu sống ở huyện A Lƣới và cũng có nhiều tên gọi nhƣ Ba - hi, Pa - cô, Cà - tu, Tà - uốt… Nền kinh tế gắn với nƣơng rẫy (gần đây đã làm ruộng nƣớc), săn bắn. Sinh hoạt văn hóa - văn nghệ phong phú, có nhiều làn điệu dân ca (Ka Lơi, Ba Hoi, Roin), nhạc cụ, câu đố, truyện kể. Phần lớn cƣ dân Thừa Thiên - Huế sinh sống ở nông thôn (72,42% tổng số dân - năm 1999).
Tỉ lệ dân thành thị trong tổng số dân tƣơng đối cao và đạt 27,58%. Về chỉ tiêu này, Thừa Thiên - Huế đứng đầu các tỉnh của vùng Bắc Trung bộ gấp 2,2 lần mức bình quân của cả vùng và cao hơn mức trung bình của toàn quốc (23,47%). Thừa Thiên Huế - kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể vô giá của dân tộc Nét đặc sắc về văn hóa của Thừa Thiên Huế là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian với văn hóa cung đình. Mảnh đất này còn có nhiều làng nghề (kim hoàn, đúc đồng, thêu thùa, đan nón, mộc mỹ nghệ, rèn, gạch ngói, hoa giấy, tranh dân gian, ẩm thực, ngƣ nghiệp…) với các sản phẩm mà ngƣời dân ở tạo ra, đã gửi gắm trong đó tâm hồn của ngƣời dân xứ Huế.
Bên cạnh đó, Thừa Thiên Huế còn nổi tiếng với nhiều lễ hội dân gian, mà tiêu biểu là lễ hội z 9 điện Hòn Chén diễn ra hai lần trong năm vào tháng 3 âm lịch (Xuân tế) và lễ tháng 7 âm lịch (Thu tế), lễ hội Cầu Ngƣ ở Thai Dƣơng Hạ hằng năm vào ngày 12 tháng giêng âm lịch. Các di tích văn hóa lịch sử có mặt ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh, nhất là thành phố Huế. Tính đến hết năm 1999 cả tỉnh có 73 di tích đã đƣợc xếp hạng, bao gồm 11 đình, 3 chùa, 1 đền, 1 tháp, 54 di tích lịch sử - cách mạng và 2 di tích khác. Không kể đàn Nam Giao, Hổ Quyền và cụm lăng tẩm ở phía Nam sông Hƣơng, Huế còn lƣu giữ khoảng 200 công trình kiến trúc cung đình ở phía bờ Bắc.
Bên trong Kinh thành là Đại Nội đƣợc xây dựng năm 1804 và hoàn chỉnh năm 1833 với hơn 100 công trình kiến trúc tráng lệ. Ở phía Nam sông Hƣơng có 7 khu lăng tẩm gồm các lăng: Thiên Thọ (Gia Long), Hiếu Lăng (Minh Mạng), Xƣơng Lăng (Thiệu Trị), Khiêm Lăng (Tự Đức), An Lăng (Dục Đức), (Tƣ Lăng (Đồng Khánh) và Ứng Lăng (Khải Định). Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều đình làng, nhiều địa danh cùng với nó là cả kho tàng văn hoá dân gian ẩn chứa bên trong, phản ánh đời sống tinh thần cũng nhƣ tiến trình đi lên của cộng đồng làng xã nơi đây trong mấy trăm năm qua. Văn bia đình, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này là một phần di sản văn hoá Huế mà giới nghiên cứu hiện nay vẫn còn chƣa quan tâm thoả đáng.
Lịch sử hình thành lãnh thổ Vào thời kỳ thuộc Hán, những năm đầu công nguyên, vùng đất Thừa Thiên thuộc huyện Tƣợng Lâm, quận Nhật Nam. Theo tác giả Trần Đại Vinh: Vào năm 192, nhân dân Tƣợng Lâm dƣới sự lãnh đạo của một tù trƣởng (sử Trung Quốc viết là Khu Liên) đã giành đƣợc quyền độc lập, dựng nƣớc Lâm Ấp, kinh đô là Sinhapura (tại làng Trà Kiệu) và về sau là kinh đô (phế tích tại z 10 làng Đồng Dƣơng). Từ đó, Lâm Ấp dần lớn mạnh. Năm 248, họ đã vƣợt biên giới phía Bắc ra đánh phá, hạ đƣợc thành Khu Túc.
Năm 347, vua Lâm Ấp là Phạm Văn đã chiếm toàn bộ quận Nhật Nam, rồi thông báo với thứ sử Giao Châu là Chu Phồn đòi lấy Hoành Sơn (Đèo Ngang) làm phân giới. Từ đó, giao tranh giữa quân đội của chính quyền đô hộ và quân đội vƣơng quốc Lâm Ấp diễn ra thƣờng xuyên nơi đây, giành qua giật lại nhiều lần, nhƣng cơ bản Lâm Ấp vẫn giữ đƣợc vùng bành trƣớng của mình. Cho đến năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lập nền độc lập của đất nƣớc Đại Việt, thì từ Hoành Sơn trở về Nam vẫn là lãnh thổ của vƣơng quốc Chiêm Thành (tên gọi về sau của nƣớc Lâm Ấp). Dƣới sự cai trị của Lâm Ấp - Chiêm Thành, tất nhiên vùng này đã đƣợc phân chia thành các địa hạt hành chính, có tên gọi cụ thể, với tiếng nói và chữ viết cổ Chămpa, nhƣng hầu hết đã thất truyền.
Sử đời Tống chỉ còn ghi lại vùng phía Bắc Chiêm Thành là châu Ô, Lý. Sử Đại Việt ghi kỹ hơn, cũng chỉ thêm các châu phía Bắc, là Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh. Vào đời Lý, năm 1069, quân Chiêm quấy phá biên giới phía Nam Đại Việt, do đó vua Lý Thánh Tông đã thân chinh, đem quân Đại Việt tiến vào kinh đô Vijaya lúc bấy giờ (Việt gọi là Phật Thệ và về sau là Chà Bàn, Đồ Bàn) bắt đƣợc vua Chiêm là RudravarmanII (Chế Củ) đem về Thăng Long. Chế Củ xin dâng đất ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để chuộc tội và đƣợc trở về.
Nhƣng 5 năm sau, quân Chiêm lại quấy phá biên giới. Do đó, năm 1075 vua Lý Nhân Tông cử Lý Thƣờng Kiệt cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Lý Thƣờng Kiệt đã cho vẽ bản đồ hình thể của ba châu này. Triều đình đã cho đổi tên Địa Lý thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh và chính thức chiêu mộ dân vào lập nghiệp nơi đây.
[101] Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô - Rí. Năm 1307, vua Trần cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa và đặt quan chức cai trị. Thành Hóa châu (nằm cách Huế 9 km về z 11 phía hạ lƣu sông Hƣơng) là trụ sở và trung tâm chính trị kinh tế hành chính và quân sự của châu Hóa. Sau hơn hai thế kỷ mở mang khai khẩn, đến giữa thế kỷ thứ XVI, lộ Thuận Hóa đã thành nơi "đô hội lớn của một phƣơng".
Năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bƣớc khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này.