Chương 1: Cơ sở hình thành, hướng tiếp cận con người từ phân tâm học Chương 2: Dấu ấn phân tâm học qua thế giới nhân vật Vũ Trọng Phụng Chương 3 : Phân tâm học và một số nét riêng về nghệ thuật 8 NỘI DUNG CHƢƠNG I CƠ SỞ HÌNH THÀNH HƢỚNG TIẾP CẬN CON NGƢỜI TỪ PHÂN TÂM HỌC 1. Vài nét về phân tâm học và sự thay đổi quan niệm về con ngƣời 1. Vài nét về Freud và phân tâm học Phân tâm học là bộ môn khoa học chuyên sâu nghiên cứu về con người, được sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bởi một nhà Thần kinh học người Áo - Bác sĩ Singmund Freud. Phân tâm học tức môn Tâm lý học dùng phương pháp phân tích do Freud sáng lập và cũng là người có công lớn nhất làm cho môn học từ chỗ chỉ giản đơn là một phương pháp điều trị chứng bệnh tâm thần có hiệu quả trở thành một lý thuyết xã hội được nhiều người trên thế giới biết đến như một phát minh lớn trong đời sống khoa học cũng như trong đời sống tinh thần của con người.
Đặc biệt, trong đời sống tinh thần của con người, ý thức hay còn gọi là cái hữu thức (conscient) đã được con người biết đến từ lâu. Loài người đã khám phá được điều bí ẩn về cái hữu thức và loài người đã phát huy được vai trò to lớn của nó trong mọi hoạt động hàng ngày. Bên cạnh đó con người cũng đã biết đến một hiện tượng tinh thần khác. Đó là cái vô thức (inconscient).
Nhưng người ta lại cho rằng cái vô thức là cái không có nội dung gì và vì thế nó cũng không có vai trò gì trong đời sống tinh thần của con người. Do đó các nhà triết học, các nhà xã hội học, các nhà tâm lý học trước Freud nói chung chẳng quan tâm gì đến việc tìm hiểu về hiện tượng này. 9 Như đã nói ở trên, Freud vốn là một bác sĩ Thần kinh học chuyên chữa trị một căn bệnh cũng thuộc loại tinh thần như người ta thường quan niệm, nhưng nguồn gốc chủ yếu lại là do tổn thương của hệ thần kinh với tư cách là một cơ quan phủ tạng như các cơ quan phủ tạng khác gây ra. Đây là loại bệnh tinh thần với đầy đủ ý nghĩa của nó.
Nó là trạng thái tinh thần trong một hoàn cảnh nào đó gây ra và cũng chỉ chữa trị nó có hiệu quả, vững chắc bằng giáo dục, một phương pháp khoa học thích hợp và bằng lòng nhân ái, thương yêu chân thành. Cũng vì thế mà nhiều lần Freud đã gọi phân tâm học là một giáo dục học theo phương pháp của phân tâm học. Tất cả những thủ pháp chữa trị bằng thuốc và phẫu thuật chỉ là sự hỗ trợ khi cần thiết mà thôi. Cũng vì thế mà môn học này được gọi là Tâm phân học.
Từ bỏ phương pháp chữa trị bằng thôi miên trước kia vì nó không có hiệu quả và thay thế vào đó bằng phương pháp giáo dục của phân tâm học được coi như là một bước đột phá, một bước ngoặt trong y học mà trực tiếp là trong tâm thần học thời đó. Nhưng chính phát kiến này đã bị người đời mà trực tiếp là thầy thuốc tâm thần học thời đó quá sùng bái thôi miên lên án và cho phân tâm học của Freud là tà thuật. Đau khổ vì bị hiểu lầm nhưng tin tưởng vào con đường mà mình đã lựa chọn, một mình quyết tâm làm sáng tỏ vấn đề cuối cùng ông trở thành một lý thuyết gia, người sáng lập ra một ngành học mới một chủ nghĩa như người đời đang gọi với nhiều hiệp hội Phân Tâm học trên rất nhiều nước và trên hết là hiệp hội Phân Tâm học quốc tế. Hơn nữa, phân tâm học còn được coi là môn học chính thức trong nhiều trường đại học.
Giáo trình đầu tiên của môn học này được chính thức giảng dạy trong nhà trường được mang tựa đề “Những bài giảng nhập đề của môn Tâm phân học” (Les lectures d’introduction de la Psychanalise) do chính Freud biên soạn và trực tiếp giảng dạy ra đời vào năm 1915 - 1916. 10 Tâm phân học đã lấy cái vô thức làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mình, còn cái hữu thức là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học cổ điển và đã được các nhà tâm lý học, các nhà triết học, các nhà xã hội học và nhiều ngành khoa học nghiên cứu về con người đã nghiên cứu và kết quả là người ta đã hiểu được khá đầy đủ về nó. Vì vậy Freud cũng đã dành cho cái hữu thức một vị trí xứng đáng trong học thuyết của mình. Đồng thời Freud còn chỉ ra những mặt mạnh cũng như những mặt hạn chế của cái hữu thức.
Và cái hữu thức không phải là hình thức tinh thần duy nhất chi phối mọi hoạt động của con người cũng như vai trò của nó không phải là tất cả. Tâm lý học lấy cái vô thức làm đối tượng là tâm lý học về những miền sâu tức tâm lý học về cái vô thức, là Tâm phân học, là học thuyết Freud. Tâm lý học về cái vô thức do Freud sáng lập tuy có khác với tâm lý học cổ điển nhưng không cái nào loại trừ cái nào mà bổ sung cho nhau làm cho nghành tâm lý học thêm phong phú, hoàn chỉnh. Tuy gọi là tâm lý học về cái vô thức nhưng trong hệ thống lý luận của Tâm phân học lại có ba bộ phận rõ rệt tuy chúng có liên quan chặt chẽ với nhau.
Đó là: - Lý thuyết về cái vô thức. - Lý thuyết về tình dục (hiểu theo nghĩa của phân tâm học) - Lý thuyết về cơ cấu nhân cách toàn diện hay gọi là tâm lý học về Ngã, tức cái Tôi. Trong ba bộ phận này thì lý thyết về cái vô thức giữ vai trò nền tảng. Cùng với ba bộ phận chủ yếu nói trên, chúng ta còn thấy nhiều vấn đề rất đáng quan tâm và được người đời coi là những phát minh giá trị của Freud.
Ví như thuyết về những giấc mơ với những lý giải đầy tính thuyết phục, có tính khoa học cao về nhiều vấn đề trong đó có những vấn đề về cơn ác mộng, về mặc cảm Oedipe (Ơ-đíp) đã được nhiều nhà khoa học rất quan 11 tâm, đánh giá cao và được coi như một bi hài kịch của cuộc sống người… Những khám phá của Freud và các học trò của ông như Car Jung khám phá tầng sâu trong tâm lý con người. Lúc đầu các phát minh của ông và học trò chỉ vận dụng trong y học nhưng rồi rất nhanh chóng sau đó các ngành khoa học và xã hội cũng không bỏ lỡ cơ hội, đặc biệt là trong văn học. Ở Việt Nam Vũ Trọng Phụng là một trong những tác giả sớm tiếp cận các trước tác của Freud. Thậm chí ông còn được coi là một đệ tử của S.
Và đó là cớ để người ta phê phán ông. Vũ Trọng Phụng không từ chối điều đó. Có vẻ như ông đã sớm có một xác tín riêng trong việc vận dụng Freud để quan sát và thể hiện cho “nhân loại Việt Nam” ở những năm đầu thế kỷ XX có giá trị trong những phát minh quan trọng khám phá những tầng sâu bí ẩn trong con người. Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Tác phẩm văn học là một phát ngôn phức hợp của người sáng tác, là sự phản ánh, khúc xạ, vang hưởng, dự cảm của đời sống hiện thực và là đối tượng tích cực của sự tiếp nhận văn học, tác phẩm văn học cũng là “con đẻ của thời đại” mà nó sinh ra… Và như chúng ta đã biết, bất kỳ nhà văn nào cũng sống trong một thời đại cụ thể, được hít thở bầu không khí của thời đại mà mình đang sống, trực tiếp hoặc gián tiếp, ít nhiều đều chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, sắc thái văn hoá của thời đại đó.
Để hiểu rõ hơn về cơ sở hình thành, hướng tiếp cận con người từ phân tâm học chúng ta phải xét đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn chương cũng như hoàn cảnh lịch sử - xã hội của thời đại đó, cụ thể là xã hội Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX Đầu thế kỷ XX, trên thế giới xuất hiện nhiều nhà khoa học lừng lẫy như: Anhxtanh (Đức) với thuyết tương đối. Pavlov với định luật “phản xạ có điều kiện”; Fleming tìm ra thuốc kháng sinh Pê-ni-ci-lin… 12 Các ngành khoa học này đã giúp con người tạo ra bước nhảy vọt về sản xuất và năng suất lao động, nâng cao mức sống, chất lượng cuộc sống của con người. Đặc biệt con người chúng ta còn phát hiện ra một thế giới mới về con người mà học thuyết phân tâm học là tiêu biểu.
Tình hình thế giới có nhiều biến động đã ảnh hưởng tới Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá, văn học. Thực dân Pháp tuy bắt đầu xâm lược nước ta từ năm 1858, nhưng cho đến hết thế kỷ XIX , xét trên phạm vi cả nước, chúng chủ yếu chỉ hoạt động về mặt quân sự. Xã hội Việt Nam vì thế, căn bản vẫn là xã hội phong kiến - một xã hội phong kiến bị xâm lược. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi đã tạm bình định được đất nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp mới tiến hành khai thác thuộc địa một cách quy mô, do đó xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc, trở thành xã hội thưc dân nửa phong kiến.
Hàng loạt đô thị tư bản chủ nghĩa xuất hiện từ Nam chí Bắc, là những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của chế độ thực dân. ở những đô thị này ra đời những tầng lớp xã hội mới: Tư sản, tiểu tư sản, thợ thuyền dân nghèo thành thị… Trong những tầng lớp thị dân này, đóng vai trò quan trọng về mặt tư tưởng và văn hoá là những người tiểu tư sản trí thức Tây học (học sinh, sinh viên, viên chức…). Qua tầng lớp trí thức này, tư tưởng và văn hoá hiện đại của Âu Mỹ ngày càng thâm nhập vào nước ta một cách sâu sắc (trước kia, qua tầng lớp trí thức Hán học, sự tiếp nhận tư tưởng và văn hoá nước ngoài của ta chủ yếu giới hạn trong quan hệ với những thành tựu của Trung Quốc thời Cổ Trung đại). Từ những lớp thị dân nói trên, một công chúng mới của văn học ra đời.