Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài 1.1 Cải lương - Nghệ thuật cải lương Ngày nay, khi nhắc đến cải lương thì hầu hết nhiều người nghĩ ngay đến bài vọng cổ trước tiên. Điều này cũng không mấy khó hiểu, bởi vì giai điệu của bài vọng cổ mang vóc dáng của loại hình nghệ thuật cải lương rõ rệt nhất. Nhưng ít ai biết đến xuất xứ, hình thành và diễn tiến của loại hình sân khấu truyền thống này. “Nếu giải thích theo nghĩa thông thường của từ điển bằng cách cắt nghĩa riêng từng chữ Hán Việt thì “cải” có nghĩa là “sửa đổi” và “lương” có nghĩa là “tốt lành” rồi ghép lại thì hai chữ “cải lương” có nghĩa là “sửa đổi cho tốt hơn”.
Định nghĩa này quả đúng như hoài bão của Lương Khắc Ninh khi ông muốn “cải lương” lại bộ môn Hát bội vào những năm 1916, 1917 vì lối diễn xuất cùng hát xướng của các đào kép hát bội ngày càng sút kém, nên ông kêu gọi chấn chỉnh lại lối hát cùng diễn xuất cho hay như xưa. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Dũng: “Cải lương là một loại hình ca kịch truyền thống của Việt nam nói chung và Nam Bộ nói riêng, nó sinh sau so với hát bội và chèo, kế thừa tinh hoa một phần của hát bội về hóa trang và vũ đạo, tính chất dân gian và hài của chèo, tiếp xúc và tiếp biến một phần văn hóa nghệ thuật âm nhạc và cấu trúc kịch bản của kịch nghệ phương Tây, cùng một số dòng nhạc dân tộc khác…” [27, tr. 180] Cách đây khoảng ba thế kỉ, Nam Bộ là một vùng đất hoang sơ chưa có đông người sinh sống. Dần dần các lưu dân Việt trong quá trình Nam tiến đã tới đây khai hoang lập nghiệp trên vùng đất trù phú này.
Những truyền thống văn hóa tốt đẹp cũng theo chân họ tới đây, tiếp tục phát triển trong hoàn cảnh mới đã tạo nên những giá trị tinh thần vô cùng phong phú, từ đó làm bệ phóng cho sự ra đời ca nhạc tài tử và sân khấu cải lương. 17 “Cải lương là một đại từ hay một danh từ chung theo phương diện xã hội, còn sân khấu cải lương hay nghệ thuật cải lương là một cụm danh từ trong địa hạt cải lương. Cải lương xưa kia chỉ có một hình thức là sân khấu ca kịch, ngày nay theo sự phát triển của khoa học công nghệ nó được phân chia thành nhiều hình thức: cải lương audio (băng - đĩa tiếng), cải lương video (băng - đĩa hình), cải lương truyền hình (đài truyền hình), cải lương truyền thanh (đài phát thanh)… Riêng cụm từ sân khấu cải lương để chỉ cải lương sàn diễn, tức là ca kịch trên sân khấu. Nghĩa của cải lương là đổi mới, cải cách làm đẹp và sân khấu cải lương cũng có nghĩa là sự cách tân về sân khấu.
Đó là hàm ý rộng, một sự cách tân trên cơ sở dựa vào yếu tố truyền thống và phát triển theo quy luật hiện đại” [4, tr. Ngay từ buổi bình minh của nó, các nghệ sĩ tiền phong đã ý thức xây dựng hai câu liễn như một khẩu hiệu cho sự cách tân này: “Cải cách hát ca theo tiến bộ Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”. Đây là một dấu ấn về thời gian, một sự định hình của sân khấu cải lương thời ấy mà gánh cải lương Tân Thinh đã treo trước rạp từ năm 1920. Cái gốc của cải lương là sân khấu - sàn diễn và linh hồn của nó là âm nhạc, bởi loại hình ca kịch thì vai trò âm nhạc là chủ đạo.
Mà cái gốc của âm nhạc cải lương xuất phát từ dòng âm nhạc tài tử Nam Bộ, sau đó nó được biến tấu và bổ sung những giai điệu mới để phát triển phù hợp với sân khấu cải lương. Bên cạnh đó nó còn dung nạp những loại hình nghệ thuật khác mà các tác giả đã chắt lọc tinh hoa từng loại riêng. “Nói một cách khác sân khấu cải lương là một loại hình nghệ thuật cộng sinh, là cầu nối giữa truyền thống với nghệ thuật hiện đại. Bản chất thẩm mỹ nghệ thuật cải lương đem đến cái đẹp hài hòa, xúc cảm trữ tình, thẩm mỹ nghệ thuật ấy lúc mới ra đời là cái đẹp truyền thống dân gian, cổ truyền, mang những giá trị văn học và âm nhạc dân tộc” [5, tr.
Ngôn ngữ của cải lương rất phong phú, không chỉ ở lời ca, câu thoại mà còn được thể hiện bằng màu sắc của cảnh trí, ánh sáng, âm thanh trong âm nhạc, động tác trong biểu diễn… 18 1.2 Đờn ca tài tử và Ca ra bộ - Đờn ca tài tử Nam Bộ: Thuật ngữ “Đờn ca tài tử Nam Bộ” không phải ai cũng gọi giống nhau. Có người, có nơi gọi là “Ca nhạc tài tử Nam Bộ” hoặc “Đờn ca tài tử Nam Bộ”. Và để cho thuật ngữ mà gần gũi với bản chất Nam Bộ ta nên gọi là “Đờn ca tài tử Nam Bộ”. Dân ca Nam Bộ là yếu tố quan trọng tạo thành nhạc tài tử Nam Bộ.
“Trong quá trình Nam tiến của dân tộc ta, ngay đến thế kỷ thứ 17 thì vùng Đồng Nai và Sài Gòn trở vào vẫn còn là rừng rậm đến mấy nghìn dặm, đất đai nhiều kênh rạch, đường thủy như mắc cửi không thể đi bằng đường bộ được. Cho đến khi triều đình nhà Nguyễn đề ra chính sách đinh điền, khai hoang mở cõi thì nhiều người ở các gia tầng, hoàn cảnh, địa vị khác nhau từ miền Bắc, miền Trung, nhất là từ Thuận - Quảng kéo vào vùng đất màu mỡ này (theo Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú). Từ đó vùng đất Nam Bộ với sự cộng cư và giao lưu với nhau về những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, vài nét văn hóa riêng của nhiều tộc người cùng gian lao khổ cực bên nhau đã hình thành nên những phong tục, tập quán, những làn điệu hò, vè, lý, hát ru… và hình thành làn điệu dân ca Nam Bộ” [8,Tr 32]. Dòng âm nhạc của nhạc tài tử Nam Bộ là do nhiều người, nhiều thế hệ tạo nên chứ không của riêng cá nhân nào.
Buổi đầu phong trào đờn ca tài tử trội nhất là ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc và sau này mới lan rộng ra thành trung tâm quan trọng như Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ, Bạc Liêu… Âm nhạc đờn ca tài tử là một trong những cơ sở hình thành nghệ thuật cải lương sau này. - Ca ra bộ: Sau khi hoạt động đờn ca tài tử bắt đầu phát triển khắp vùng đất Nam Bộ thì lúc bấy giờ lối hát ca ra bộ bắt đầu xuất hiện. Từ hình thức ca nhạc thính phòng, tiến tới diễn xướng, vừa hát vừa biểu diễn bằng động tác để minh hoạ gọi là ca ra bộ. Ca ra bộ là cầu nối giữa đàn hát thính phòng và sân khấu kịch hát cải lương sau này.
“Về hình thức của các gánh ca ra bộ thì các nghệ sĩ vẫn ăn mặc bình thường giống như lúc ca nhạc tài tử, nhưng phong trên sân khấu đã được trang trí thêm những tranh thủy mặc bán ngoài chợ chứ không còn để trống như trước nữa” [8, tr. 19 Tóm lại, ca ra bộ giống với đờn ca tài tử ở phần âm nhạc và bài bản nhưng khác ở chỗ có thêm phần minh họa khi hát.3 Vọng cổ Trong kho tàng cổ nhạc của đờn ca tài tử và cải lương Nam Bộ mà người xưa còn để lại cho con cháu ngày nay làm tài sản tinh thần thì bản vọng cổ có thể nói là một trường hợp hi hữu. Bởi vì so với các bài bản khác trong Bảy Bày, Sáu Bắc, Ba Nam, Tứ Oán… thì bản vọng cổ gần như là bản duy nhất mà người sau vẫn còn biết rõ danh tánh của người đã sản sinh ra bản gốc của làn điệu này. Mà điệu nhạc ấy không phải là một bài bản thông thường, NSND Bạch Tuyết 2 gọi đó là “Nữ hoàng của nghệ thuật sân khấu cải lương” [11, tr.
Người đang được nhắc đến đó chính là nhạc sĩ Cao Văn Lầu (hay còn gọi là Sáu Lầu 3), tác giả của bản “Dạ cổ hoài lang” (nghe trống khuya nhớ chồng), sáng tác năm 1919 dựa trên câu chuyện đời có thật của vợ chồng Ông - bản vọng cổ đầu tiên của nước ta mà cho đến nay nó vẫn luôn là bài bản chủ lực nhất của nghệ thuật cải lương. Từ khi ra đời, bản Dạ cổ hoài lang đã được sự yêu mến và đón nhận nồng nhiệt của người dân Bạc Liêu lúc bấy giờ. “Lần đầu tiên nó được kéo thành nhịp tư để phù hợp với nhịp độ diễn xướng sân khấu là do sáng kiến của ông Bảy Kiên, được ông Sáu Lầu đồng thuận, trình diễn trên sân khấu của đoàn cải lương Tập Ích Ban do ông Huỳnh Thủ Trung làm chủ Bầu. Một bước tiến cực kì quan trọng của bản Vọng cổ - Dạ cổ hoài lang là cải biến từ nhịp 16 với 20 câu lên nhịp 32 rút lại 2 Bà tên thật là Nguyễn Thị Bạch Tuyết, sinh năm 1945 tại tỉnh An Giang.
Mồ côi mẹ năm 9 tuổi và bắt đầu đi hát tân nhạc ở một số nhà hàng. Từ năm 1962 đến 1968 bà đi theo nhiều đoàn cải lương và hoạt động nghệ thuật sôi nổi. Năm 1985 (40 tuổi), Bạch Tuyết bước vào giảng đường đại học và có được bằng cử nhân Ngữ văn. Năm 1988, được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT, cũng năm này bà tốt nghiệp khoa đạo diễn ở Viện hàn lâm Sân khấu và Điện ảnh tại Sofia - Bulgaria.
Năm 1995, Bà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và trở thành tiến sĩ nghệ thuật cải lương đầu tiên của Việt Nam. Năm 2012, Bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân ở lần xét duyệt thứ 7 (năm 2011). 3 Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976), Ông sinh ra tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Hiện phần mộ của Ông nằm trong địa bàn thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, bên cạnh phần mộ người vợ yêu quý của Ông là bà Trần Thị Tấn, chính người phụ nữ này đã có mối tình duyên trắc trở cùng Ông, khiến Ông đã cảm tác ra bản Dạ cổ hoài lang.
Sự kiện ấy xảy ra vào ngày 12-08-1941 trong ngày giỗ Tổ tại Bạc Liêu. Được phép của thầy Nhạc Khị và với sự đồng thuận của huynh trưởng Sáu Lầu, ông Trần Tấn Hưng đã độc tấu bằng Ghita phím lõm trở thành bản vọng cổ nhịp 32. “Trong khi phần âm nhạc được kéo dài thêm nhịp thì tên bản cũng được thay đổi cho phù hợp.