Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Chương này trình bày hai nội dung chính: 1)Tổng quan tình hình nghiên cứu câu hỏi tiếng Việt và 2) Cơ sở lí luận. Tình hình nghiên cứu câu hỏi tiếng Việt Như đã nói ở mục Lí do chọn đề tài, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về câu nói chung, câu hỏi nói riêng. Mỗi công trình ra đời đều đem lại những đóng góp nhất định. Ở Việt Nam, lĩnh vực này cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, như: Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Hoàng Trọng Phiến, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thị Thìn, Lê Đông, Nguyễn Thị Lương, v.v… Trong đó phải kể đến một số công trình tiêu biểu sau: (1) Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã viết về câu hỏi (câu nghi vấn, theo cách dung của tác giả) như sau: “Câu nghi vấn là câu vốn có chức năng hỏi, tức là người nói muốn người nghe cung cấp cho mình tin mà mình chưa biết, hoặc còn hoài nghi.
Về mặt cấu tạo, câu nghi vấn sử dụng các phương tiện sau đây: - Các đại từ nghi vấn (các đại từ phiếm chỉ dùng vào chức năng hỏi); - Quan hệ từ hay (chỉ sự lựa chọn); - Các phó từ dùng vào chức năng hỏi; - Các ngữ thái từ (một số trong tình thái từ); - Ngữ điệu hỏi…”. [1, tr 118] Định nghĩa trên mới chỉ đúng với kiểu câu hỏi chính danh, tức câu hỏi có đích ở lời là “hỏi” chứ chưa bao quát những loại câu hỏi được dùng theo lối gián tiếp, tức câu hỏi được dùng với đích ở lời không phải để hỏi. Tuy không nói trong định nghĩa nhưng đây đó trong công trình này tác giả Diệp Quang Ban cũng có chỉ rõ khả năng biểu đạt hành vi ngôn ngữ gián tiếp của kiểu câu này: “Trong cách dùng gián tiếp, kiểu câu nghi vấn có khả năng diễn đạt được khá nhiều hành động nói khác ngoài hành động hỏi: nhận định, thuộc biểu hiện; yêu cầu, thuộc điều khiển; rủ rê, thuộc điều khiển; nhắc nhở, can ngăn, thuộc điều khiển; bộc lộ cảm xúc,…”. 5 (2) Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009 Tác giả Đỗ Hữu Châu nghiên cứu kiểu câu hỏi thông qua nghiên cứu hành vi ngôn ngữ.
Ông cho rằng, biểu thức ngôn ngữ hỏi (tức câu hỏi) có thể thực hiện một số hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp: “1. Hiệu lực ở lời trực tiếp hỏi/ Hiệu lực ở lời gián tiếp: cầu khiến. - Mày có dọn dẹp sách vở cho gọn lại không? / Dọn dẹp ngay sách vở cho gọn. - Anh có hút thuốc lá không? / Cho tôi một điếu.
Hiệu lực ở lời trực tiếp: hỏi / Hiệu lực ở lời gián tiếp: khẳng định. - Mày không làm vỡ cái cốc thì ai làm? / Chính mày làm vỡ cái cốc.” [4, tr 148] (3) Cao Xuân Hạo, Ngữ pháp chức năng - Câu trong tiếng Việt, Quyển 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007. Tác giả Cao Xuân Hạo định nghĩa câu nghi vấn như sau: “Câu nghi vấn là câu có hoạt động trung ngôn yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hoặc một phần sự tình được tiền giả định”. [15, tr 124] Mặc dù không nêu hết đích ngôn trung của kiểu câu này trong định nghĩa nhưng khi phân loại, tác giả Cao Xuân Hạo có chia câu nghi vấn thành 2 nhóm lớn, là câu nghi vấn chính danh và câu nghi vấn có giá trị ngôn trung khác, như: khẳng định, ngờ vực, thanh minh,… (4) Đinh Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Đinh Trọng Lạc có đưa ra khái niệm câu hỏi nhưng ông chủ yếu quan tâm đến kiểu câu hỏi tu từ.
Ông cho rằng: “Câu hỏi tu từ là câu về hình thức là câu hỏi mà về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định. Câu hỏi tu từ có tác dụng tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn hoặc làm cho hình tượng văn học đẹp đẽ lên gấp bội”. Quan niệm của tác giả Đinh Trọng Lạc về câu hỏi, đặc biệt là câu hỏi tu từ khá nhất quán. Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2000, một lần nữa ông lại đưa ra định nghĩa về câu hỏi tu từ: “Câu hỏi tu từ là biện pháp tu từ cú pháp trong ngữ cảnh nhất định.
Câu về hình thức là câu hỏi mà về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc”. 6 Cũng trong công trình nghiên cứu này, tác giả Đinh Trọng Lạc đã nghiên cứu câu hỏi từ góc nhìn của phong cách học. Ông chỉ ra câu hỏi tu từ là biện pháp tu từ cú pháp.Tức là cách phối hợp sử dụng các kiểu câu để đạt được hiệu quả tu từ trong phạm vi thuộc bậc cao hơn (trong chỉnh thể trên câu, trong văn bản). Về mặt phân loại, tác giả Đinh Trọng lạc đã một lần nữa khái quát ý nghĩa của kiểu câu hỏi tu từ.
Ông cho rằng, dạng tiêu biểu nhất của câu hỏi tu từ là dạng không đòi hỏi câu trả lời. “Nó thường có ý nghĩa khẳng định làm cho hình tượng văn học đẹp lên gấp bội”. Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, câu hỏi tu từ có các ý nghĩa sau: “- Câu hỏi tu từ có ý nghĩa khẳng định. Ví dụ: Em là ai? Cô gái hay nàng tiên? Em có tuổi hay không có tuổi? Tóc em đây là mây hay là suối? Đôi mắt em nhìn hay bếp lửa đêm đông? Thịt da em là sắt hay là đồng?" (Tố Hữu) - Câu hỏi tu từ có ý nghĩa bộc lộ thái độ, ví dụ: Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ? (Đặng Trần Côn) - Câu hỏi tu từ có ý nghĩa phủ định, ví dụ: Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ)” [16, tr 309] Như vậy, dưới góc độ tu từ học, Đinh Trọng Lạc đã coi câu hỏi tu từ là một biện pháp tu từ cú pháp, tức là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là trung hòa hay tu từ trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ.
Hơn nữa, ông cũng chỉ mới trình bày một cách khái quát nhất về câu hỏi tu từ bằng những ví dụ minh họa chứ chưa có sự phân tích, giảng giải một cách rõ ràng, chi tiết từng kiểu dạng câu hỏi. 7 (5) Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000. Hai tác giả này đã nói về câu hỏi tu từ (một kiểu loại câu hỏi) như sau: “Câu hỏi tu từ là kiểu câu giàu màu sắc phong cách, thường gặp trong khẩu ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật”. Dưới góc độ phong cách học nghiên cứu các dạng chuyển thái của câu hỏi trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, tác giả Nguyễn Thái Hòa cho rằng sự chuyển đổi này khá phức tạp.
Có một số dạng chuyển thái của câu hỏi mà tác giả đã chỉ ra sau đây: - Câu hỏi - khẳng định: Là kiểu câu hỏi tu từ cú pháp. Kiểu câu hỏi này chỉ nhằm để khẳng định một ý kiến nào đó chứ không phải để nghe người đối thoại thông tin điều mình muốn biết. - Câu hỏi - cảm thán: Là những câu hỏi không phải để hỏi mà để bộc lộ một tâm tư, nỗi lòng hoặc là ngạc nhiên hay chán nản, mỉa mai,. Chẳng hạn, thông thường trong khẩu ngữ, khi thất vọng, người ta thường thốt lên “Làm thế nào bây giờ?”.
Trong chữ viết, đặt ba dấu chấm hỏi (???) dùng để biểu thị sự ngạc nhiên quá mức. Cũng có khi người ta vừa đặt dấu chấm hỏi, vừa đặt dấu chấm than sau một câu là để biểu thị sự hoài nghi đồng thời biểu thị sự cảm thán. Đó là những cách biểu thị tình thái. - Câu hỏi - phủ định: Kiểu câu hỏi này có hình thức là câu hỏi nhưng nhằm phủ định một nội dung nào đó.
Ví dụ: Này ông chủ tịch ngụ cư hãy liệu hồn! Mở tai ra mà nghe đây: Ông định hống hách với ai? (Ngụ cư thì không được hống hách với ai - Nguyễn Thái Hòa chú thích). Khác với Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa không xếp câu hỏi tu từ vào nhóm biện pháp tu từ cú pháp. Ông cũng không xếp nó vào một loại riêng mà tìm hiểu nó trong mối tương quan với qui tắc sử dụng lời nói và hiệu quả trong giao tiếp. Đặc biệt, ông không phân loại câu hỏi tu từ theo ý nghĩa mà theo từng dạng chuyển đổi tình thái trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
8 (6) Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán, Giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu học hệ CĐSP và hệ SP 12+2, Tiếng Việt tập 2, Nxb Giáo dục, 1999 Các tác giả cuốn sách này cho rằng: “Câu hỏi tu từ là biện pháp tu từ cú pháp trong đó người ta dùng hình thức câu hỏi không phải để hỏi (nghĩa là đòi hỏi câu trả lời) mà cái chính là để tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn có nội dung là khẳng định hoặc phủ định hoặc sai khiến một cách có cảm xúc”. Ngoài việc đưa ra định nghĩa về câu hỏi tu từ, các tác giả còn phân loại câu hỏi theo mục đích nói và chỉ ra vai trò của kiểu câu này trong một số kiểu văn bản. Về phân loại câu hỏi theo mục đích nói, cuốn sách này nêu ra có ba loại câu hỏi (các tác giả gọi là câu nghi vấn): - Câu nghi vấn - khẳng định: Đây là câu có hình thức là câu hỏi nhưng thực chất là khẳng định một điều gì đó. Các tác giả đã dẫn một loạt ví dụ về các kiểu câu nghi vấn [17, tr 238-239] dưới đây: Ví dụ: Tôi mà lại không biết việc đó à? (Tôi biết việc đó).
- Câu nghi vấn - phủ định: Đây là câu có hình thức là câu hỏi nhưng thực chất đây là câu dùng để phủ định một điều gì đó. Ví dụ: “Tiền tao có phải là vỏ hến mà quẳng cho mày vay bây giờ? Dễ tao hám lãi của mày lắm đấy. (Ngô Tất Tố) - Câu nghi vấn - sai khiến: Đây là kiểu cấu có hình thức nghi vấn nhưng thực chất đây là câu dùng để yêu cầu, đề nghị, nhờ vả hay sai khiến. Ví dụ: Ghê gớm, muỗi! Bác Pha có cho tôi mượn cái quạt không? (Nguyễn Công Hoan).
Về vai trò của câu hỏi tu từ: Theo cuốn sách này, câu hỏi tu từ có vai trò rất lớn, tùy từng thể loại văn bản.