Luận Văn Thạc Sĩ Về Mộng Trong Thơ Văn Tản Đà

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mộng trong thơ văn tản đà, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

164
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Cấu trúc khóa luận

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT VỀ MỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1. Khái niệm mộng

1.2. Mộng trong thơ văn Việt Nam trước và sau Tản Đà

1.2.1. Mộng trong thơ văn trung đại

1.2.1.1. Mộng nhắm mắt – mộng tín ngưỡng
1.2.1.2. Mộng mở mắt – mộng tưởng

1.2.2. Mộng trong thơ văn đầu thế kỷ XX đến 1945

1.3. Tản Đà, về thân thế và cá tính

1.3.1. Một cuộc đời nhiều biến động

1.3.2. Một cá tính đặc biệt

1.4. Hiện tượng Tản Đà trong lịch sử văn học dân tộc

1.4.1. Tản Đà có tầm ảnh hưởng lớn và đóng góp đáng kể cho tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

1.4.2. Tản Đà đã để lại nhiều tác phẩm giá trị, đa dạng về thể loại

1.5. Cơ sở hình thành mộng trong thơ văn Tản Đà

1.5.1. Việc chép mộng từ chính sự lý giải của Tản Đà

1.5.2. Một thời đại “đáng chán” đối với Tản Đà

1.5.3. Những yếu tố từ gia đình và bản thân Tản Đà

2. CHƯƠNG 2: MỘNG TRONG THƠ VĂN TẢN ĐÀ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1. Tản Đà, từ giấc mộng “kinh bang tế thế” đến mộng làm nhà tư tưởng

2.1.1. Tản Đà và giấc mộng “kinh bang tế thế”

2.1.2. Tản Đà với thuyết “Thiên lương” và giấc mộng “đại đồng”

2.2. Tản Đà và giấc mộng thoát ly

2.2.1. Tản Đà từ quan niệm “nhân sinh như mộng” đến nỗi chán kiếp làm người

2.2.2. Mộng lên cung trăng

2.2.3. Mộng được lên trời, gặp tiên

2.2.4. Tản Đà và giấc mộng viễn du

2.3. Tản Đà và giấc mộng yêu đương

2.3.1. Tản Đà, từ con người đa tình đến giấc mộng yêu đương

2.3.2. Những mối tình trong cuộc đời thực

2.3.3. Ước ao được gặp tri kỷ

2.3.4. “Lăng kính phong tình ân ái” của Tản Đà

3. CHƯƠNG 3: MỘNG TRONG THƠ VĂN TẢN ĐÀ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

3.1. Thơ viết về mộng của Tản Đà đa dạng về thể

3.2. Văn xuôi viết về mộng của Tản Đà

3.2.1. Ngôn ngữ trong thơ viết về mộng của Tản Đà

3.2.1.1. Một số biện pháp tu từ nổi bật
3.2.1.2. Đại từ phiếm chỉ

3.2.2. Ngôn ngữ trong văn xuôi viết về mộng của Tản Đà

3.3. Không gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà

3.3.1. Không gian thiên nhiên

3.3.2. Không gian con người

3.4. Thời gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà

3.4.1. Thời gian quá khứ

3.4.2. Thời gian hiện tại

3.4.3. Thời gian tương lai

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm mộng

Mộng, hay còn gọi là giấc mơ, là một hiện tượng tâm lý phức tạp. Theo Từ điển Tiếng Việt, mộng được định nghĩa là hiện tượng thấy người hay sự việc hiện ra như thật trong giấc ngủ. Mộng có thể chia thành hai loại: mộng nhắm mắt và mộng mở mắt. Mộng nhắm mắt thường liên quan đến tín ngưỡng, trong khi mộng mở mắt thể hiện những khao khát và ước mơ trong đời sống tinh thần. Tản Đà, với tư cách là một nhà thơ lớn, đã thể hiện rõ nét những giấc mộng này trong tác phẩm của mình. Ông không chỉ mơ mộng về những điều tốt đẹp mà còn phản ánh những khát khao sâu sắc của con người trong xã hội đầy biến động. Mộng trong thơ văn Tản Đà không chỉ là một khía cạnh nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong việc hiểu rõ tâm tư và tình cảm của ông.

1.1 Mộng trong thơ văn Việt Nam trước và sau Tản Đà

Trước Tản Đà, mộng đã xuất hiện trong văn học Việt Nam với nhiều hình thức khác nhau. Trong văn học trung đại, mộng thường mang tính chất kỳ ảo, mở ra cánh cửa dẫn đến thế giới tâm linh. Những giấc mộng này không chỉ phản ánh khát khao của con người mà còn tạo ra không gian hư ảo để bộc lộ những ước mơ mà trong thực tế không thể thực hiện. Sau Tản Đà, mộng tiếp tục được khai thác và phát triển trong các tác phẩm văn học hiện đại, thể hiện sự chuyển mình của văn học Việt Nam trong bối cảnh xã hội mới. Tản Đà đã đóng góp một cách đặc biệt vào việc hình thành và phát triển khái niệm mộng trong văn học, tạo nên một dấu ấn không thể phai mờ.

II. Nội dung mộng trong thơ văn Tản Đà

Nội dung mộng trong thơ văn Tản Đà rất phong phú và đa dạng. Ông không chỉ mơ về những điều lý tưởng mà còn thể hiện những nỗi buồn, sự chán chường trước thực tại. Tản Đà đã mơ về một thế giới tốt đẹp, nơi mà con người có thể sống trong hòa bình và hạnh phúc. Những giấc mộng này thường mang tính chất thoát ly, thể hiện sự khao khát tìm kiếm một cuộc sống ý nghĩa hơn. Ông cũng mơ về tình yêu, với những mối tình đầy lãng mạn và cảm xúc. Những giấc mộng này không chỉ là sự thể hiện cá nhân mà còn phản ánh tâm tư của cả một thế hệ đang sống trong thời kỳ giao thoa giữa truyền thống và hiện đại.

2.1 Tản Đà và giấc mộng yêu đương

Giấc mộng yêu đương trong thơ Tản Đà thể hiện một khía cạnh sâu sắc của tâm hồn ông. Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một người đa tình, luôn khao khát tìm kiếm tri kỷ. Những bài thơ của ông thường mang đậm chất lãng mạn, thể hiện những cảm xúc chân thành và sâu sắc. Tản Đà đã khéo léo kết hợp giữa mộng và thực, giữa tình yêu và nỗi cô đơn, tạo nên những tác phẩm đầy sức hút. Những giấc mộng yêu đương của ông không chỉ là những ước mơ cá nhân mà còn là tiếng nói của một thế hệ đang tìm kiếm tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống.

III. Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà

Tản Đà đã sử dụng nhiều phương thức nghệ thuật để thể hiện mộng trong thơ văn của mình. Ngôn ngữ trong thơ ông rất phong phú, với nhiều biện pháp tu từ độc đáo. Ông thường sử dụng hình ảnh và biểu tượng để tạo nên không gian mộng mơ, giúp người đọc cảm nhận được những giấc mộng của ông một cách sâu sắc. Không gian nghệ thuật trong thơ Tản Đà thường gắn liền với thiên nhiên, tạo ra những bức tranh sống động về cõi mộng. Thời gian trong thơ ông cũng rất linh hoạt, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, tạo nên một dòng chảy liên tục của những giấc mộng.

3.1 Không gian nghệ thuật của những giấc mộng

Không gian nghệ thuật trong thơ văn Tản Đà rất đa dạng và phong phú. Ông thường sử dụng hình ảnh thiên nhiên để tạo ra những bức tranh sống động, giúp người đọc dễ dàng hình dung ra cõi mộng của ông. Những hình ảnh như trăng, hoa, gió, và nước thường xuất hiện trong thơ ông, tạo nên một không gian mộng mơ và lãng mạn. Không gian con người cũng được Tản Đà khai thác một cách tinh tế, thể hiện những tâm tư và tình cảm của nhân vật trong những giấc mộng. Qua đó, Tản Đà đã tạo ra một thế giới nghệ thuật đầy màu sắc, nơi mà mộng và thực hòa quyện vào nhau.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ MỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Khái niệm mộng Mộng, có lúc còn được gọi là giấc mơ, mơ mộng, cơn mơ, cơn mê, chiêm bao, ước ao, mộng mị v. Trong Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, dưới góc độ là một danh từ thì mộng là “hiện tượng thấy người hay sự việc hiện ra như thật trong giấc ngủ” hoặc là “điều luôn luôn được hình dung, tưởng tượng tới và mong muốn trở thành sự thật, ví dụ: người yêu trong mộng”. Còn khi là một động từ thì mộng chỉ việc “thấy người hay sự việc hiện ra trong giấc ngủ, ví dụ: mộng thấy chuyện chẳng lành” [19; tr. Như vậy, những gì xảy ra trong giấc ngủ mỗi ngày của con người thì gọi là mộng, những mong muốn của con người cũng được gọi là mộng.

Do đó, ta có thể tạm chia khái niệm “mộng” thành hai loại: mở mắt và nhắm mắt; trong đó, mộng nhắm mắt có thể hiểu là mộng theo kiểu tín ngưỡng, còn mộng mở mắt là thuộc về mộng tưởng, những khao khát trong đời sống tinh thần của con người. Bỏ qua những giấc mộng trong khi nhắm mắt, “mộng” mà chúng tôi muốn tìm hiểu ở đây hay nói cách khác, mộng ở trong thơ văn Tản Đà là những mộng ước. Về mộng lúc tỉnh này, nhà văn người Tây Ban Nha Maria Zambrano đã viết trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới rằng: “Trong trạng thái tỉnh, chiêm mộng đột ngột chiếm ta mà không biết được và tạo ra một kiểu quên lãng hay hồi tưởng mà sự diễn biến của nó có thể xô đẩy ta tới những bờ cõi mà ý thức không thể dung nạp được. Khi ấy thì chiêm mộng trở thành mầm mống của sự ám ảnh, sự bóp méo hiện thực.

Nhưng ngược hẳn lại, nếu nó dẫn dắt sang một bình diện ứng hợp với ý thức, đến nới mà ý thức và tâm hồn cộng sinh, thì nó lại trở thành một hình thức sáng tạo đời sống cá nhân hoặc trong một sự nghiệp” [2; tr 166]. Luan van 10 Trong văn chương, mộng là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi, với nhiều tầng nghĩa đa dạng nhưng tương đối thống nhất. Nằm trong cùng trường ngữ nghĩa với mộng là mê: một động từ chỉ sự “ham thích tới mức như bị cuốn hút hoàn toàn vào, không còn biết đến những cái khác” [19; tr. 813]; mơ là việc con người ta: “nghĩ tới và mong có được (những điểu tốt đẹp ở ngay trước mắt hoặc chưa hề có.

833]; ước là một động từ chỉ việc “mong có được điều biết là rất khó hoặc không hiện thực” [19; tr. 1410]; tưởng: “nghĩ đến nhiều một cách cụ thể và với tình cảm thiết tha. Như vậy, năm từ này sẽ là dấu hiệu đầu tiên giúp ta nhận biết mộng trong thơ văn Tản Đà.1 Thống kê tỷ lệ phần trăm số bài thơ có chứa những từ thuộc trường ngữ nghĩa “mộng” (gồm: mộng/mơ/mê/tưởng/ước) trong thơ Tản Đà. Tên tác phẩm Năm xuất Tổng số Tổng số bài thơ có Tỷ lệ bản hoặc bài thơ chứa những từ (%) in lần mộng/mơ/mê/tưởng/ ước Tản Đà văn tập 1912 - 8 3 37.5 1915 Khối tình con I 1916 35 5 14.3 Khối tình con II 1918 28 7 25 Còn chơi – Thơ 1920 – 32 11 34.4 Tản Đà 1925 Luan van 11 Thơ (đây không Chưa rõ phải là tên tập thơ) xuất xứ, 24 8 33.3 nơi in, năm sáng tác Thơ trên báo và 1926 - 50 7 14 An Nam tạp chí 1939 (Văn bản thơ và sự phân chia tập thơ của Tản Đà chúng tôi dựa vào cuốn Văn học hiện đại – Tuyển tập Tản Đà, do Xuân Diệu biên soạn, xuất bản năm 2002.) Từ bảng thống kê 1.1 ta thấy, số bài thơ có chứa những từ: mộng, mê, mơ, tưởng, ước là 41 bài, chiếm 23.2% trên tổng số bài thơ của Tản Đà.

Như chúng tôi đã nói, những từ này là dấu hiệu đầu tiên để nhận dạng thơ viết về mộng của ông, bên cạnh đó có khá nhiều bài Tản Đà viết về mộng mà không có những từ này.2 Mộng trong thơ văn Việt Nam trước và sau Tản Đà Chuyện mộng mơ trong văn học từ Đông sang Tây không hề thiếu, chẳng hạn ở văn học Trung Quốc có Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ở văn học phương Tây thì đơn cử truyện ngắn Giấc mơ của Franz Kafka. Vậy thì trong văn học viết Việt Nam trước và sau Tản Đà, chuyện mộng mị, mộng tưởng đã tồn tại như thế nào? 1.1 Mộng trong thơ văn trung đại Luan van 12 1.1 Mộng nhắm mắt – mộng tín ngưỡng Trước Tản Đà ngót thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam đã có những giấc mộng tồn tại như một nét đặc biệt của yếu tố kỳ ảo, và hơn thế “giấc mộng không chỉ mở ra cánh cửa dẫn đến thế giới tâm linh của người Việt mà còn tạo nên một vùng không gian hư ảo để con người tự do bộc lộ những khát khao, mộng tưởng mà lúc tỉnh thức họ không cách nào thực hiện được. Nghiên cứu về mộng trong thơ văn Tản Đà mà không nhắc đến văn học trung đại thì quả là một thiếu sót, vì ông Nguyễn Khắc Hiếu có “cái dáng điệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, mỗi dân tộc, mỗi tín ngưỡng đều có những câu chuyện khác nhau về mộng mị và thường lý giải ý nghĩa mộng từ sự tồn tại của linh hồn, thần linh.

Mộng trong văn học trung đại Việt Nam cũng mang màu sắc tương tự. Nói đến văn học trung đại nước ta thì dĩ nhiên không thể bỏ qua tuyệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Nhân vật chính là nàng Thúy Kiều qua hai lần tìm đến cái chết cũng chính là hai lần không thể chết mà đặc biệt là trong cơn mê, nàng đều gặp gỡ Đạm Tiên – một hồn ma. Trong tác phẩm, thì hồn Đạm Tiên đã xuất hiện năm lần, và những giấc mơ Đạm Tiên mang lại không chỉ là ám ảnh mà đó còn đánh thức những dự cảm về tương lai của Kiều:“Thấy người nằm đó biết sau thế nào” hay “Một dày một mỏng biết là có nên” và “Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.

Trong thế giới kỳ ảo của những giấc mộng, dường như kết giới giữa thế giới loài người và thế lực siêu nhiên đã được phá vỡ. Và trong chiêm bao, thần linh thường mang đến cho loài người lời hứa hẹn hay các điềm báo và sự báo mộng này cũng chính là một cách thể hiện sự hiển linh của các bậc thần thánh hay người đã khuất. Hay như trong Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào, sau khi được thầy cho lên thiên tào một chuyến, hiểu rõ sự tình, “Tử Hư từ biệt Luan van 13 thầy trở về, sang năm đi thi quả đỗ tiến sĩ. Phàm những việc cát hung họa phúc nhà Tử Hư, thường được thầy về báo cho biết.

Trong Chuyện Lý tướng quân nói về Lý Hữu Chi người huyện Đông Thành, vốn là một nông dân khỏe mạnh, bản tính hung tợn nhưng giỏi đánh trận nên được Quốc công Đặng Tất tiến cử cho làm tướng quân. Có quyền chức trong tay, Lý tướng quân ngày một độc ác, chém giết vô tội vạ, đến năm 40 tuổi thì chết. Hắn có một người con trai tên Thúc Khoản, Thúc Khoản lại có một người bạn thân tên Nguyễn Qùy, đã chết ba năm rồi. Theo chỉ dẫn của bạn, con trai của Lý tướng quân chứng kiến được cảnh Diêm phủ xét xử cha mình vô cùng ghê rợn.

“Quỷ sứ liền vào lôi Hữu Chi điệu đi. Bấy giờ Thúc Khoản ở khe tường dòm thấy, khóc thất thanh. Mấy người quỷ sứ liền lấy tay bưng miệng rồi đưa về nhà, ném chàng từ trên không xuống đất. Thúc Khoản giật mình tỉnh dậy, thấy người nhà đương ngồi chung quanh mà khóc, nói mình chết đã hai ngày rồi, chỉ vì thấy ngực hãy còn thoi thóp và hơi nong nóng, cho nên chưa dám đem chôn.

Thúc Khoản bèn ruồng bỏ vợ con, đem của cải tán cấp cho mọi người và đốt hết những văn tự nợ, vào rừng hái thuốc tu luyện. Trong quan niệm của con người trung đại thì số mệnh con người căn bản đã được định sẵn từ trước khi đứa trẻ chào đời, thông qua hình ảnh mà người mẹ nhìn thấy trong chiêm bao trước khi thụ thai hoặc qua những tín hiệu từ đứa bé sau khi sinh ra. Có một điều dễ thấy trong truyện trung đại thì sự ra đời của những nhân vật chính thường được thần linh báo mộng như một sự dự báo xuất thân phi thường của họ. Trong truyện thơ Hoàng Trừu, sự thụ thai nàng công chúa nước Nam được tác giả dân gian giới thiệu như sau: “Đền Nghêu rủ áo thong dong, Một bà hoàng hậu mơ mòng giấc hoa.

Chiêm bao thấy vị sao sa, Luan van 14 Hai tay hứng được thật là chẳng sai” (Hoàng Trừu) Như vậy, “những gì hiện ra trong giấc chiêm bao có thể là ảo nhưng bản thân giấc chiêm bao là thực. Văn học trung đại đã mang vào tác phẩm của mình những giấc chiêm bao, có chiêm bao thấy điều dữ nhưng cũng có chiêm bao thấy điều lành và quan trọng là những điều lành điều dữ ấy đều ứng vào cuộc đời thật của những nhân vật” [35; tr. Điều đó lí giải vì sao người trung đại nói chung và văn học trung đại nói riêng đều coi trọng những gì diễn ra trong giấc chiêm bao. Đối lập với quan niệm xem giấc mộng chỉ là những gì thuộc về ý thức của con người, văn học trung đại sùng kín những giấc mộng như một cách thiêng liêng nhất, thần bí nhất và đáng tin cậy nhất để con người kết nối với các thế lực siêu nhiên.

Đó là niềm tin của người đời xưa và cũng là chất xúc tác tạo nên màu sắc huyền ảo vô cùng hấp dẫn trong văn học trung đại.2 Mộng mở mắt – mộng tưởng Phải có lý do khiến mộng mị kiểu tín ngưỡng chiếm số lượng lớn trong văn học trung đại. Theo Lê Trí Viễn, “mỗi thời đại đều có cách cảm thức thế giới của riêng mình. Văn học là một hình thái hoạt động lựa chọn, đánh giá, phản ánh, sáng tạo thế giới” [28; tr. 49] và ở “thời trung đại, trừ cái mê tín vô nghĩa – người ta trộn lẫn cái trừu tượng, cái hoang đường với cái hiện thực: linh hồn là khẳng định, ma quỷ có mặt ở quanh mình, thần thánh, tiên, Phật giáng lâm là chuyện thật.

Thế nên việc Tản Đà từng than rằng: “Trời đất từ nay xa cách mãi” (Tống biệt) cũng chính vì “nếp cảm thức trung đại” vẫn luôn ngự trị trong ông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề Luận Văn Thạc Sĩ Về Mộng Trong Thơ Văn Tản Đà của tác giả Nguyễn Anh Thư, dưới sự hướng dẫn của Th.S. Lê Văn Lực, được thực hiện tại Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh vào năm 2018. Bài viết tập trung vào việc phân tích và khám phá chủ đề "mộng" trong thơ của Văn Tản Đà, một trong những nhà thơ nổi bật của văn học Việt Nam. Qua đó, tác giả không chỉ làm rõ những hình ảnh và biểu tượng liên quan đến mộng mà còn chỉ ra cách mà chúng phản ánh tâm tư, tình cảm và thế giới quan của tác giả. Bài luận này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thơ Văn Tản Đà mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh văn học thời kỳ đó.

Để mở rộng thêm kiến thức về lý luận văn học và các tác phẩm văn học khác, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Giáo Trình Lí Luận Văn Học: Tác Phẩm Văn Học Đặc Sắc, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về các tác phẩm văn học nổi bật, hoặc Khám Phá Đặc Điểm Thi Pháp Trong Truyện Ngắn Của Nguyễn Quang Sáng, giúp bạn hiểu thêm về thi pháp trong văn học Việt Nam. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Tư tưởng lý luận phê bình văn học của Kim Thánh Thán và sự tiếp nhận tại Việt Nam, để có cái nhìn sâu sắc hơn về lý luận văn học trong bối cảnh Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có thêm nhiều góc nhìn mới mẻ về văn học.