CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ MỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Khái niệm mộng Mộng, có lúc còn được gọi là giấc mơ, mơ mộng, cơn mơ, cơn mê, chiêm bao, ước ao, mộng mị v. Trong Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, dưới góc độ là một danh từ thì mộng là “hiện tượng thấy người hay sự việc hiện ra như thật trong giấc ngủ” hoặc là “điều luôn luôn được hình dung, tưởng tượng tới và mong muốn trở thành sự thật, ví dụ: người yêu trong mộng”. Còn khi là một động từ thì mộng chỉ việc “thấy người hay sự việc hiện ra trong giấc ngủ, ví dụ: mộng thấy chuyện chẳng lành” [19; tr. Như vậy, những gì xảy ra trong giấc ngủ mỗi ngày của con người thì gọi là mộng, những mong muốn của con người cũng được gọi là mộng.
Do đó, ta có thể tạm chia khái niệm “mộng” thành hai loại: mở mắt và nhắm mắt; trong đó, mộng nhắm mắt có thể hiểu là mộng theo kiểu tín ngưỡng, còn mộng mở mắt là thuộc về mộng tưởng, những khao khát trong đời sống tinh thần của con người. Bỏ qua những giấc mộng trong khi nhắm mắt, “mộng” mà chúng tôi muốn tìm hiểu ở đây hay nói cách khác, mộng ở trong thơ văn Tản Đà là những mộng ước. Về mộng lúc tỉnh này, nhà văn người Tây Ban Nha Maria Zambrano đã viết trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới rằng: “Trong trạng thái tỉnh, chiêm mộng đột ngột chiếm ta mà không biết được và tạo ra một kiểu quên lãng hay hồi tưởng mà sự diễn biến của nó có thể xô đẩy ta tới những bờ cõi mà ý thức không thể dung nạp được. Khi ấy thì chiêm mộng trở thành mầm mống của sự ám ảnh, sự bóp méo hiện thực.
Nhưng ngược hẳn lại, nếu nó dẫn dắt sang một bình diện ứng hợp với ý thức, đến nới mà ý thức và tâm hồn cộng sinh, thì nó lại trở thành một hình thức sáng tạo đời sống cá nhân hoặc trong một sự nghiệp” [2; tr 166]. Luan van 10 Trong văn chương, mộng là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi, với nhiều tầng nghĩa đa dạng nhưng tương đối thống nhất. Nằm trong cùng trường ngữ nghĩa với mộng là mê: một động từ chỉ sự “ham thích tới mức như bị cuốn hút hoàn toàn vào, không còn biết đến những cái khác” [19; tr. 813]; mơ là việc con người ta: “nghĩ tới và mong có được (những điểu tốt đẹp ở ngay trước mắt hoặc chưa hề có.
833]; ước là một động từ chỉ việc “mong có được điều biết là rất khó hoặc không hiện thực” [19; tr. 1410]; tưởng: “nghĩ đến nhiều một cách cụ thể và với tình cảm thiết tha. Như vậy, năm từ này sẽ là dấu hiệu đầu tiên giúp ta nhận biết mộng trong thơ văn Tản Đà.1 Thống kê tỷ lệ phần trăm số bài thơ có chứa những từ thuộc trường ngữ nghĩa “mộng” (gồm: mộng/mơ/mê/tưởng/ước) trong thơ Tản Đà. Tên tác phẩm Năm xuất Tổng số Tổng số bài thơ có Tỷ lệ bản hoặc bài thơ chứa những từ (%) in lần mộng/mơ/mê/tưởng/ ước Tản Đà văn tập 1912 - 8 3 37.5 1915 Khối tình con I 1916 35 5 14.3 Khối tình con II 1918 28 7 25 Còn chơi – Thơ 1920 – 32 11 34.4 Tản Đà 1925 Luan van 11 Thơ (đây không Chưa rõ phải là tên tập thơ) xuất xứ, 24 8 33.3 nơi in, năm sáng tác Thơ trên báo và 1926 - 50 7 14 An Nam tạp chí 1939 (Văn bản thơ và sự phân chia tập thơ của Tản Đà chúng tôi dựa vào cuốn Văn học hiện đại – Tuyển tập Tản Đà, do Xuân Diệu biên soạn, xuất bản năm 2002.) Từ bảng thống kê 1.1 ta thấy, số bài thơ có chứa những từ: mộng, mê, mơ, tưởng, ước là 41 bài, chiếm 23.2% trên tổng số bài thơ của Tản Đà.
Như chúng tôi đã nói, những từ này là dấu hiệu đầu tiên để nhận dạng thơ viết về mộng của ông, bên cạnh đó có khá nhiều bài Tản Đà viết về mộng mà không có những từ này.2 Mộng trong thơ văn Việt Nam trước và sau Tản Đà Chuyện mộng mơ trong văn học từ Đông sang Tây không hề thiếu, chẳng hạn ở văn học Trung Quốc có Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ở văn học phương Tây thì đơn cử truyện ngắn Giấc mơ của Franz Kafka. Vậy thì trong văn học viết Việt Nam trước và sau Tản Đà, chuyện mộng mị, mộng tưởng đã tồn tại như thế nào? 1.1 Mộng trong thơ văn trung đại Luan van 12 1.1 Mộng nhắm mắt – mộng tín ngưỡng Trước Tản Đà ngót thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam đã có những giấc mộng tồn tại như một nét đặc biệt của yếu tố kỳ ảo, và hơn thế “giấc mộng không chỉ mở ra cánh cửa dẫn đến thế giới tâm linh của người Việt mà còn tạo nên một vùng không gian hư ảo để con người tự do bộc lộ những khát khao, mộng tưởng mà lúc tỉnh thức họ không cách nào thực hiện được. Nghiên cứu về mộng trong thơ văn Tản Đà mà không nhắc đến văn học trung đại thì quả là một thiếu sót, vì ông Nguyễn Khắc Hiếu có “cái dáng điệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, mỗi dân tộc, mỗi tín ngưỡng đều có những câu chuyện khác nhau về mộng mị và thường lý giải ý nghĩa mộng từ sự tồn tại của linh hồn, thần linh.
Mộng trong văn học trung đại Việt Nam cũng mang màu sắc tương tự. Nói đến văn học trung đại nước ta thì dĩ nhiên không thể bỏ qua tuyệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Nhân vật chính là nàng Thúy Kiều qua hai lần tìm đến cái chết cũng chính là hai lần không thể chết mà đặc biệt là trong cơn mê, nàng đều gặp gỡ Đạm Tiên – một hồn ma. Trong tác phẩm, thì hồn Đạm Tiên đã xuất hiện năm lần, và những giấc mơ Đạm Tiên mang lại không chỉ là ám ảnh mà đó còn đánh thức những dự cảm về tương lai của Kiều:“Thấy người nằm đó biết sau thế nào” hay “Một dày một mỏng biết là có nên” và “Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.
Trong thế giới kỳ ảo của những giấc mộng, dường như kết giới giữa thế giới loài người và thế lực siêu nhiên đã được phá vỡ. Và trong chiêm bao, thần linh thường mang đến cho loài người lời hứa hẹn hay các điềm báo và sự báo mộng này cũng chính là một cách thể hiện sự hiển linh của các bậc thần thánh hay người đã khuất. Hay như trong Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào, sau khi được thầy cho lên thiên tào một chuyến, hiểu rõ sự tình, “Tử Hư từ biệt Luan van 13 thầy trở về, sang năm đi thi quả đỗ tiến sĩ. Phàm những việc cát hung họa phúc nhà Tử Hư, thường được thầy về báo cho biết.
Trong Chuyện Lý tướng quân nói về Lý Hữu Chi người huyện Đông Thành, vốn là một nông dân khỏe mạnh, bản tính hung tợn nhưng giỏi đánh trận nên được Quốc công Đặng Tất tiến cử cho làm tướng quân. Có quyền chức trong tay, Lý tướng quân ngày một độc ác, chém giết vô tội vạ, đến năm 40 tuổi thì chết. Hắn có một người con trai tên Thúc Khoản, Thúc Khoản lại có một người bạn thân tên Nguyễn Qùy, đã chết ba năm rồi. Theo chỉ dẫn của bạn, con trai của Lý tướng quân chứng kiến được cảnh Diêm phủ xét xử cha mình vô cùng ghê rợn.
“Quỷ sứ liền vào lôi Hữu Chi điệu đi. Bấy giờ Thúc Khoản ở khe tường dòm thấy, khóc thất thanh. Mấy người quỷ sứ liền lấy tay bưng miệng rồi đưa về nhà, ném chàng từ trên không xuống đất. Thúc Khoản giật mình tỉnh dậy, thấy người nhà đương ngồi chung quanh mà khóc, nói mình chết đã hai ngày rồi, chỉ vì thấy ngực hãy còn thoi thóp và hơi nong nóng, cho nên chưa dám đem chôn.
Thúc Khoản bèn ruồng bỏ vợ con, đem của cải tán cấp cho mọi người và đốt hết những văn tự nợ, vào rừng hái thuốc tu luyện. Trong quan niệm của con người trung đại thì số mệnh con người căn bản đã được định sẵn từ trước khi đứa trẻ chào đời, thông qua hình ảnh mà người mẹ nhìn thấy trong chiêm bao trước khi thụ thai hoặc qua những tín hiệu từ đứa bé sau khi sinh ra. Có một điều dễ thấy trong truyện trung đại thì sự ra đời của những nhân vật chính thường được thần linh báo mộng như một sự dự báo xuất thân phi thường của họ. Trong truyện thơ Hoàng Trừu, sự thụ thai nàng công chúa nước Nam được tác giả dân gian giới thiệu như sau: “Đền Nghêu rủ áo thong dong, Một bà hoàng hậu mơ mòng giấc hoa.
Chiêm bao thấy vị sao sa, Luan van 14 Hai tay hứng được thật là chẳng sai” (Hoàng Trừu) Như vậy, “những gì hiện ra trong giấc chiêm bao có thể là ảo nhưng bản thân giấc chiêm bao là thực. Văn học trung đại đã mang vào tác phẩm của mình những giấc chiêm bao, có chiêm bao thấy điều dữ nhưng cũng có chiêm bao thấy điều lành và quan trọng là những điều lành điều dữ ấy đều ứng vào cuộc đời thật của những nhân vật” [35; tr. Điều đó lí giải vì sao người trung đại nói chung và văn học trung đại nói riêng đều coi trọng những gì diễn ra trong giấc chiêm bao. Đối lập với quan niệm xem giấc mộng chỉ là những gì thuộc về ý thức của con người, văn học trung đại sùng kín những giấc mộng như một cách thiêng liêng nhất, thần bí nhất và đáng tin cậy nhất để con người kết nối với các thế lực siêu nhiên.
Đó là niềm tin của người đời xưa và cũng là chất xúc tác tạo nên màu sắc huyền ảo vô cùng hấp dẫn trong văn học trung đại.2 Mộng mở mắt – mộng tưởng Phải có lý do khiến mộng mị kiểu tín ngưỡng chiếm số lượng lớn trong văn học trung đại. Theo Lê Trí Viễn, “mỗi thời đại đều có cách cảm thức thế giới của riêng mình. Văn học là một hình thái hoạt động lựa chọn, đánh giá, phản ánh, sáng tạo thế giới” [28; tr. 49] và ở “thời trung đại, trừ cái mê tín vô nghĩa – người ta trộn lẫn cái trừu tượng, cái hoang đường với cái hiện thực: linh hồn là khẳng định, ma quỷ có mặt ở quanh mình, thần thánh, tiên, Phật giáng lâm là chuyện thật.
Thế nên việc Tản Đà từng than rằng: “Trời đất từ nay xa cách mãi” (Tống biệt) cũng chính vì “nếp cảm thức trung đại” vẫn luôn ngự trị trong ông.