Chương 1 VẤN ĐỀ CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG TÁC PHẨM SÂN KHẤU 1. Sự giao thoa giữa văn học và nghệ thuật sân khấu Mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật là đối tượng nghiên cứu của mĩ học và nghệ thuật học. Đây là mối quan hệ giữa các loại hình cùng gắn bó trong một hệ thống và quan hệ giữa loại hình này với loại hình khác. thường diễn ra ở dạng động và dạng tĩnh.
“Ở dạng tĩnh, đó là quan hệ so sánh để tìm ra những điểm giống nhau (tương đồng) hoặc khác nhau (sự tương dị). Ở dạng động, đó là quan hệ có sự hợp tác liên kết trong quá trình sáng tạo (quan hệ tương tác)” [68, tr. 10] Văn học và sân khấu vốn dĩ đều là hình thái ý thức xã hội ý thức thẩm mĩ – nghệ thuật, cùng có đặc tính chung, chức năng chung và cùng chịu sự chi phối, quyết định của đời sống xã hội. Giữa chúng có mối liên hệ khá mật thiết, chặt chẽ.
Hai loại hình nghệ thuật này đều có chung đối tượng, đề tài, chủ đề. Nếu văn học lấy cuộc sống làm đối tượng để phản ánh, thì sân khấu cũng thế. Xét cho cùng, cả văn học và sân khấu đều là “tấm gương phản chiếu” thực tiễn xã hội. Chúng cùng hướng đến những giá trị Chân – Thiện – Mĩ, giá trị nhân văn của cuộc sống.
Chẳng hạn, khi khán giả xem vở kịch Làm., vốn được chuyển thể từ tiểu thuyết Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng, vẫn được thấy một câu chuyện còn vẹn nguyên tính thời sự như thuở nào. Vẫn là những tên nhà giàu, quan chức đạo đức giả thao túng xã hội. Vẫn là bi kịch của những cô gái mất trinh tiết trước khi lập gia đình. Vẫn là những bậc làm cha, làm mẹ giấu giếm, bưng bít chuyện giới tính để những cô, cậu bé khi bước vào tuổi dậy thì hoang mang đến lạc lối lúc nào không biết, và cũng tương tự như vậy ở những vở kịch 11 chuyển thể khác.
Đó là thông điệp cố gắng níu giữ hạnh phúc gia đình để những đứa trẻ còn có cha có mẹ, đừng để chúng rơi vào hoàn cảnh côi cút không đáng như đôi vợ chồng Út Vũ đã làm. Tình yêu thương tuy có vẻ bình thường nhưng nếu cuộc sống không có yêu thương, nó sẽ không tồn tại trong vở Cánh đồng bất tận. Là chuyện kể về thân phận bọt bèo của những tá điền thuở trước, không chỉ cực nhọc vì gánh nặng tô thuế mà còn bị đám nhà giàu hiếp đáp cả trong đời sống tình cảm trong vở Con nhà nghèo. Còn với vở Nửa đời ngơ ngác chuyển thể từ truyện ngắn Chiều vắng của Nguyễn Ngọc Tư lại là câu chuyện tình trái ngang vì người mẹ trọng giàu sang mà ép duyên con gái, khiến hư thai, người tình cũ ở tù oan trở về với lòng thù hận và sống trong hận thù (nhưng không trả) gần 20 năm.
Giữa văn học và nghệ thuật sân khấu luôn có sự giao thoa nhuần nhuyễn. Bởi lẽ, nhà văn, nhà biên kịch đều là những người nghệ sĩ có cùng sự đa cảm, trí tưởng tượng, sự tinh nhạy điêu luyện, cảm quan nghệ thuật. Tư duy của người nghệ sĩ sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật (nhà văn, nhà biên kịch) là tư duy nghệ thuật. Họ phản ánh cuộc sống thông qua lăng kính của nghệ thuật, phản ánh hiện thực theo quy luật của cái đẹp, cái thẩm mĩ nhằm thể hiện và tái tạo một cách sinh động hiện thực cuộc sống với những nhu cầu, khát vọng của con người.
Cách nhìn, cách cảm nhận, suy nghĩ của nhà biên kịch gần gũi với nhà văn cho nên khi tiếp cận tác phẩm văn học, nhà biên kịch dễ dàng tiếp nhận, đồng cảm với những tư tưởng, tình cảm mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm văn học. Chính sự “giao lưu” này đã làm nên tiếng nói chung, sự đồng điệu trong việc sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Nhà văn khi viết tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn.không hề nghĩ “đứa con tinh thần” của mình sẽ có “đời sống thứ hai” trên sân khấu. Nhưng nghệ thuật là lĩnh vực của cảm xúc, của tình cảm nên tâm hồn người nghệ sĩ bao giờ cũng gặp nhau qua tác phẩm.
Vì lẽ đó, rất nhiều tác phẩm văn học đã trở thành 12 niềm cảm hứng thôi thúc các tác giả sân khấu viết nên những vở diễn mang đầy tính nhân văn, truyền tải những thông điệp đầy ý nghĩa. Các nhà biên kịch đã tìm thấy sự đồng điệu qua các tác phẩm văn học và họ mong muốn rằng những tác phẩm văn học sẽ được cụ thể hóa và hiện hữu trên sân khấu. Nhà biên kịch Minh Nguyệt, khi chuyển thể truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư đã chia sẻ : “Ngay khi mới bắt đầu tôi đã nghĩ để viết một kịch bản độc lập là rất khó, nên phải dựa vào văn học. Thế nhưng, để tìm chất liệu trong văn học cũng không dễ, vì truyện nhiều, nhưng không phải tác giả nào mình cũng thích, nên khi gặp được Tư, tôi rất hạnh phúc, truyện của bạn ấy mới và có cách xử lý thông minh.
Truyện nào cũng rõ cái tứ, cách khai thác thân phận hay, thấm đẫm tình người… đọc xong thấy xốn xang và luôn buộc mình nhớ lại. Dù viết đề tài gì, Tư cũng có cách nhìn mới lạ và sang trọng về mặt ý tưởng, không chỉ có éo le, đau khổ, bần cùng. Đạo diễn Doãn Hoàng Giang, người dựng vở kịch Số đỏ (chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Vũ Trọng Phụng) lại cho biết : “Từ ngày còn đi học, tôi đã bị hấp dẫn bởi Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, một tác phẩm văn học có cốt truyện hay. Các nhân vật được mô tả một cách cường điệu, khoa trương mà vô cùng duyên dáng.
Sự nhố nhăng của xã hội hiện lên một cách tài hoa.” 2 Tác phẩm sân khấu được bắt đầu từ kịch bản văn học. Thiếu kịch bản văn học sẽ không thể hình thành vở diễn trên sân khấu. Đó là yếu tố đầu tiên đảm bảo chất lượng, sự thành công cho vở diễn trong tương lai. Trong quá trình “sáng tạo” ra tác phẩm để diễn trên sân khấu, giai đoạn sáng tác ra kịch bản văn học là giai đoạn thể hiện tập trung nhất mối quan hệ mật thiết giữa hai loại hình nghệ thuật – văn học và sân khấu (ở đây là sân khấu kịch nói).
Kịch bản văn học sân khấu là biểu hiện cụ thể của của tính văn học trong sân 1 Theo báo TT & VH, ngày 07/04/2012 2 Theo báo NLĐ, ngày 18/01/2002 13 khấu. Kịch bản trước hết tự nó phải là một tác phẩm hoàn chỉnh và độc lập, thể hiện đầy đủ những đặc điểm của một tác phẩm văn học. Kịch bản là bước đầu tiên để hiện thực hóa những con chữ thành một câu chuyện trên sân khấu. Trần Đình Sử trong Lý luận văn học – Tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học cho rằng: “Kịch bản là bản kịch gốc mà người ta dựa vào để dựng thành vở diễn trên sân khấu.
Kịch bản văn học là nền tảng, là bộ phận quan trọng nhất làm nên một vở diễn. Kịch bản văn học là một bộ phận hợp thành của nghệ thuật sân khấu và những điều kiện của sân khấu góp phần quyết định đặc điểm riêng của kịch bản văn học” [52, tr. Cho nên, một vở kịch chuyển thể từ tác phẩm văn học muốn có chất lượng, muốn thành công, tất nhiên phải có kịch bản chuyển thể đáp ứng được những yêu cầu đặc trưng của ngôn ngữ sân khấu. Những yếu tố cơ bản trong văn học cũng là những yếu tố cơ bản trong kịch bản sân khấu như : xung đột, nhân vật, ngôn ngữ.Các yếu tố trên được định hình trên giấy trước khi được chuyển thể thành vở diễn trên sân khấu.
Điều này lại càng đúng với những vở diễn được cải biên, chuyển thể từ tác phẩm văn học. Một vở diễn trên sân khấu cũng như một tác phẩm văn học, bao giờ cũng phải có tính xung đột. Tác phẩm văn học và sân khấu chỉ có thể hình thành, phát triển thông qua các xung đột. Việc lựa chọn, giải quyết các xung đột sẽ giúp chúng ta thấy được tư tưởng nghệ thuật mà nhà văn, nhà biên kịch gửi gắm trong sáng tạo nghệ thuật của mình.
Cả văn học và kịch nếu không có xung đột thì chỉ là những hoạt cảnh nhạt nhẽo mà thôi! Đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng cách đây hàng chục năm ta thấy được sự xâm nhập của phong trào Âu hóa, những biến đổi đến không ngờ của con người trong xã hội thành thị; thì nay ở vở diễn trên sân khấu, cũng vẫn là những xung đột đó – xung đột giữa những Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, ông bà Văn Minh.với cái xã hội thành thị “nửa vời”, đồng thời đó còn là xung 14 đột của chính nội tâm nhân vật! Những xung đột đó cứ như xoay vần, âm ỉ, kéo dài mãi không thôi. Giống như thế, vở kịch Làm. (chuyển thể từ tiểu thuyết Làm đĩ) nhằm tái hiện bi kịch của Huyền. Chính cuộc hôn nhân gặp nhiều tan vỡ trong đời sống gia đình với người chồng ăn chơi nổi tiếng đất Hà Thành là Tham Kim, đã đẩy Huyền đến bi kịch “làm đĩ” như bà mẹ kế.
Còn vở diễn Kỹ nghệ lấy Tây (chuyển thể từ phóng sự cùng tên) lại là câu chuyện chuyện bi hài của các me hành nghề lấy Tây. Bi kịch của những người phụ nữ này là ở chỗ, họ “được tiếng” là “lấy Tây” nhưng lại chẳng sung sướng gì cho cam mà ngược lại, phải chịu sự dè bỉu, khinh khi, cái nhìn soi mói của người đời. Không những thế, bi kịch đó được thực thi bằng “bản án” được truyền đến cả đời con, đời cháu họ! Tuy vậy, một tác phẩm và một vở diễn, tất nhiên không thể nào giống nhau hoàn toàn. Nếu trong tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn.xung đột được thể hiện thông qua ngòi bút của tác giả, qua cách sử dụng ngôn từ của nhà văn, được hiện thực hóa, hữu hình trên trang sách; thì vở diễn, do đặc trưng, chịu sự chi phối của nghệ thuật sân khấu, xung đột lại được cụ thể hóa thông qua hành động kịch, mà ở đây, chủ yếu là thông qua diễn xuất, cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ của nhân vật, của diễn viên.Văn học nói bằng ngôn ngữ hay ngôn từ.
Đây là một dạng chất liệu đặc biệt bởi nó mang tính phi vật thể, trong khi đó, chất liệu của nghệ thuật sân khấu lại là âm thanh, sân khấu, diễn xuất của diễn viên. Nếu chất liệu của văn học là phi vật thể; thì ngược lại, ở sân khấu, đó lại là chất liệu vật thể.