chương 1, tác giả luận văn nêu lên đồi nét về Thơ mới; chương 2 viết về Mùa cổ điển - tác phẩm khép lại một thời thơ, trong đó người viết đã trình bay sự nghiệp văn chương của Quách Tấn ; Mùa Cổ điển trong “Thi nhân Việt Nam”; dong góp của tiếng thơ cũ trong Thơ mới [30]. - Hoài Yên, trong bài viết “Thay gì khi doc bài thơ “Đêm thu nghe qua kêu ” của Quách Tan” đăng trên tạp chí Hán Nóm, Viện Nghiên cứu Han Nôm, Hà Nội, số 3, năm 2000, đã chỉ ra những chỉ tiết trong bai thơ mà Quách Ta n đã tiếp thu từ thơ Đường của Trung Quốc [90]. Tran Dinh Sử trong bài Chut duyên với thơ Quách Tấn đã viết như sau: “Quách Tan là một nhà thơ đi ngược lại phong trào Thơ Mới, ông vững tâm làm tho cũ giữa lúc những lời công kích chế giéu thơ cũ đang rộn lên như ong. Và ông đã thắng.
Đến năm 1941 khi Chế Lan Viên đề tựa tập Mua cổ điển của nhà thơ cũ Quách Tấn, thì cuộc tranh cãi Thơ Mới - Thơ cũ khép lại. Trong Thi nhân Việt Nam, Quách Tan ngồi chung với các nhà Thơ Mới và Hoài Thanh đã viết những lời rat nâng niu. Hoài Thanh đã bắt trúng hồn thơ Quách Tan, đồng điệu với ông trong quan niệm thơ là cái đẹp, đem ví thơ với vườn hoa giàu hương sắc của thiên nhiên” [Trần Đình Sử, 19-5-2002]. Nhận xét về nghệ thuật thơ Quách Tắn, Trần Đình Sử viết: “Thơ Quách Tan thuộc dòng thơ Đường luật Việt Nam chảy suốt từ thơ Nôm cô điển đến thơ quốc ngữ hiện đại.
Hơn 600 năm Việt hóa, thơ Đường luật Việt Nam ngày càng tỉnh tế, điêu luyện với những tên tuổi như Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,. đến Quách Tan thơ Đường luật trở nên thâm trầm, hàm súc và càng di sâu vào nghệ thuật của thể loại, mỗi từ, mỗi ý tưởng đều hàm nghĩa. Mỗi bài là một ý cảnh độc lập. Thơ ông thiên về ý tưởng và 18 ám thị nhiều hơn là miêu tả và giải bày.
Từ Một tam lòng, Mùa cổ điền đến Dong bóng chiều, Mộng Ngân Sơn, Giọt trăng,. thơ ông như càng ngắn lại, cô đúc lại với thể loại thất tuyệt, ngũ tuyệt,.” - Người thực hiện luận văn này cũng có dim bài viết về Quách Tan. Bài “Vai anh hưởng của thơ Đường doi với thơ lang mạ n Việt Nam” trên Tạp chí Khoa hoc Xã hội, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ , số 8, năm 2005, đã chỉ ra những anh hưởng của thơ Đường đối với thơ Xuân Diệu , Huy Cận, Thâm Tâm và Quách Tan. Vài bài viết khác như: Quách Tiấn với quan niệm về việc làm thơ, Tạp chí Nha Trang, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hoà, số 191, tháng 8-2011 đã nêu lên quan niệm của Quách Tắn về thơ và việc làm thơ.
Bài Những thành tựu nghiên cứu phê bình về Quách Tấn từ trước đến nay, Tạp chí khoa học Văn hoá và Du lịch, số 2 (56), tháng 12-2011 đã tong thuật những thành tựu nghiên cứu về Quách Tan trong thời gian 70 năm, nghĩa là từ lúc Quách Tan xuất hiện trên thi đàn với lời bình giá, nhận xét của thi sĩ Tản Đà cho đến những bài viết gần đây về Quách Tắn. Bài Quách Tấn với những cách tân về ngôn ngữ và nhịp điệu thơ, Tạp chí Đại học Sài Gòn, số chuyên dé Bình luận văn học 2011 đã chi ra những đổi mới trong thơ Quách Tan về ngôn ngữ và nhịp điệu. Bài Quách Tan với việc sử dụng thé thơ và đổi mới cấu trúc câu thơ, Tạp chi Nha Trang, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hoà, số 200, tháng 5-2012 đã nêu ý kiến của Quách Tấn về sự lựa chon thé thơ khi sáng tác và chỉ ra một số đôi mới trong cấu trúc câu thơ Đường luật của Quách Tấn. Tóm lại, từ 1975 đến nay, nhất là sau đổi mới, các nhà nghiên cứu phê bình lại một lần nữa khang định đóng góp về nội dung, về nghệ thuật của tho Đường luật Quách Tấn trong thơ Việt hiện đại.
Những đóng góp của ông đã được Tu điển văn học xác nhận. Ông là người chuyên tâm và có công lớn đối với thé thơ cách luật, đã sáng tác và dịch thuật trên ngàn bài. Thơ ông, nếu ban đầu ở Mét tam lòng mang cái trong trẻo hồn nhiên của nhà thơ trước thiên nhiên thì đến Mia cổ điển lại mang cái buồn ưu tu xa vắng, nỗi “buồn mà đẹp” này cũng là nét chung của Thơ Mới bay giờ. Ông chuyên sáng tác thơ luật nhưng lại mang cảm xúc mới, ý lạ mà nồng nàn, làm cho người đọc rung động, bồi hồi theo tiếng lòng của tác giả.
Để rồi càng về sau, thơ ông dường như đã nhập vào Thiền, với những van thơ thấm đẫm Thiền vi. Thơ đường luật Việt Nam qua mấy trăm năm phát triển, đến Quách Tắn, nó trở nên 19 thâm trầm, hàm súc, đi sâu vào nghệ thuật thé loại, mỗi từ mỗi ý đều hàm nghĩa. Thơ ông chứa nhiều ý tưởng và ám thị cô đúc hơn là miêu tả, giãi bày. Những ý kiến về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX Ở trên là những thành tựu nghiên cứu về thơ Quách Tần từ trước đến nay.
Còn ý kiến về thơ Đường luật nửa dau thế ky XX, có thé điểm qua như sau: Thơ Đường luật ở Việt Nam có một lịch sử lâu đời, nó gắn liền với văn hoá Hán khi nền văn hoá này du nhập vào nước ta. Ở đây luận văn chỉ tổng thuật đôi nét về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX, tức trong giai đoạn hiện đại hoá văn học nước nhà. Điều cần lưu ý là, trước thời điểm Thơ Mới xuất hiện thì đã có một vài ý kiến công kích thơ cũ của Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Trịnh Đình Rư. Các nhà nghiên cứu thường nhắc đến bài “Ban về thơ Nom” của Phạm Quỳnh đăng trên Nam phong tạp chí, số 5-1917 như là một phản ứng đầu tiên với thơ Đường luật, khi ông viết: “Người ta thường nói thơ là cái tiếng kêu tự nhiên của con tâm.
Người Tàu định luật nghiêm cho nghề thơ, thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ay cho nó hay hơn, trúng van trúng điệu hon, nhưng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên nhiên đi vậy” [bđd]. Nếu chỉ dựa vào ý này thì rõ ràng Phạm Quỳnh là người đầu tiên công kích thơ cũ, chủ yếu là thơ Đường luật. Năm 1928, trên tờ Đông Pháp thời báo, Phan Khôi phê phán việc dạy thất ngôn luật bằng Quốc ngữ là “tục quá”; đặc biệt ông lên án lối thất ngôn luật trong khoa cử: “từ ngày đem thất ngôn luật vào trong khoa cử rồi thì thé ấy trở nên bó buộc quá mà mắt cả sanh thú”. Ngay ca một vi Cử nhân Hán học là Trịnh Dinh Ru, năm 1929, trên tờ Phu nữ tan văn đã đặt câu hỏi “Có nên chuộng thơ Đường luật không?”, ông nêu cái khó của thơ luật khiến cho người làm thơ đễ mắc phải như: thất niêm, khổ độc, trần ngôn, sáo ngữ.
Ông kêu gọi tìm một giải pháp mới, nhưng không phải tìm cách phá luật mà quay về với các thé thơ truyền thống của dân tộc như Lục bát, Song thất lục bát. Lúc này, tuy đã có vài ý kiến phản đối (nhưng không phải là tay chay) thơ Đường luật, nhưng trên thi đàn, Tản Đà vẫn cho xuất bản các tập: Khối tình con I (1916), Khoi tình con II (1918), Còn chơi (1921); Trần Tuan Khải với các tập: Duyên nợ phù sinh I (1921), Duyên nợ phù sinh I (1923), But quan hoài (1927). Trong những tập thơ trên có nhiều bài viết theo thé Đường luật và vẫn được nhiều độc giả hưởng ứng, thưởng thức. Điều đó cho thấy, khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX, 20 trong quá trình vận động để hiện đại hoá văn học Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại, thì thơ Đường luật vẫn còn được dùng dé sang tac.
Đến thời điểm 1932, năm chính thức mở màn của phong trào Thơ Mới, với cái mốc là bai Tinh già của Phan Khôi đăng trên tờ Phu nữ tân văn ngày 10-3-1932 đã tạo nên làn sóng hưởng ứng của lớp thanh niên tân học và ít nhiều gây hoang mang cho lớp cựu học. Từ đó, trên thi đàn diễn ra hai mặt trận: phái Mới có Phan Khôi, Thế Lữ, Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên.; phái Cũ có Nguyễn Văn Hanh, Thái Phi, Tùng Lam, Hoàng Duy Từ. Còn ở giữa hai phái (có thé gọi là trung gian), người ta ghi nhận có sự hiện của nhà thơ Tản Đà. Khái niệm “phái Cũ”, “thơ Cũ” là đo phái Mới, Thơ Mới đặt ra, chủ yếu để ám chỉ lối thơ sáng tác theo thể Đường luật đăng trên các báo công khai hồi đó.
Sự tấn công của Thơ Mới vào thành trì của thơ cũ không chỉ đơn thuần là sự phá bỏ hình thức thơ cũ, nhất là sự gò bó nghiêm ngặt của thơ cách luật, mà phần nào còn là sự tan công vào ý thức hệ, những giá trị tinh thần, những tiêu chuân thâm mỹ của văn học trung đại với ý thức hệ phong kiến. Dưới cái nhìn của các nhà Thơ Mới thì các nhà thơ cũ chỉ là “thợ thơ”, và thơ cách luật chỉ là loại thơ “con chó đi vô, con mèo đi ra”, thé Đường luật thì đúng là “cái ngục giam hãm tinh tứ” [44]. Tất nhiên, Thơ Mới thắng lợi không hoàn toàn do những lời phát biểu công kích thơ cũ, ma quan trọng hơn và chủ yếu là do những thi phẩm mới mẻ của các thi nhân tài năng như: Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận. được đông đảo bạn đọc nhiệt liệt và hồ hoi tiếp nhận.
Trong khi đó, trước sự tấn công của phái Mới, những người thuộc phái Cũ như Nguyễn Văn Hanh, Thái Phi, Tùng Lâm. đã có phản ứng lại. Họ dựa vào thành tựu thơ ca gần 1000 năm của dân tộc để chỉ trích Thơ Mới là thứ thơ “luộm thuộm”, “văn xuôi”; Nguyễn Văn Hanh trong bài “Thi cñ thi moi” đã chê trách các nhà thơ ta bắt chước thơ Tây là sai lầm. Theo ông, phá niêm, phá cách, nhưng có vần thì còn được, chứ tự do tới mức những câu như: “Sen, ơi Sen mây dua tao đôi guoc,/ Dé tao ra vườn ngắm cảnh chơi” thì cũng có thê thành thơ được, ngay Thạch Lam là nhà văn kiểu mới cũng phải cho là “lạ” quá.
[dẫn lại: 76,tr. Sở di, Thơ Mới tan công thơ Cũ, một phan là do thơ Cũ lúc này chỉ lo chăm chút gò văn gọt chữ, vi thế mà thơ trở nên sáo rỗng, nhạt nhẽo, khô khan.