Chương 1 VÕ HỒNG VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA VÕ HỒNG 1. Nhà văn Võ Hồng – Con người và văn nghiệp 1. Tiểu sử nhà văn Võ Hồng Nhà văn Võ Hồng sinh năm 1921, quê ở làng Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Thuở nhỏ học ở trường làng Ngân Sơn, trường phủ Tuy An, trường huyện Sông Cầu, rồi ra học trường Trung học Quy Nhơn.
Trong cuộc đời sáng tác, ông có nhiều bút danh khác nhau như Ngân Sơn, Võ An Thạch nhưng người đời biết đến ông nhiều nhất với bút danh Võ Hồng. Đến năm 1940, ông ra Hà Nội học Tú tài. Mặc dù sinh ra và lớn lên trong những năm tháng biến động của đất nước thế nhưng chưa bao giờ ông có ý định từ bỏ con đường học vấn của mình cho đến khi chiến trận nổ ra và cũng trong lúc ấy kéo theo nhiều biến cố xảy đến đã làm cho một con người giàu khát khao, ham mê đọc sách, học tập như Võ Hồng phải gác lại ước mơ. Năm 1943, tác giả lên tàu trở về quê để lại sau lưng là cả một tương lai bỏ dở.
Sau khi trở về quê, cũng giống như bao người con Việt Nam, với tinh thần yêu nước, tác giả đã hòa mình vào dòng chảy của thời đại, ông tham gia vào cách mạng rồi những năm kháng chiến chống Pháp, Võ Hồng tham gia công tác tại các lớp Bình dân học vụ. Năm 1949, tác giả dạy học và làm Hiệu trưởng Trường Trung học Lương Văn Chánh ở Phú Yên. Năm 1954, ông đưa vợ con về quê vợ ở Đà Lạt, với lợi thế ngoại ngữ - nói và viết lưu loát tiếng Pháp, tiếng Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho Võ Hồng trong quá trình đọc tác phẩm văn chương trong và ngoài nước. Đây có thể nói là giai đoạn Võ Hồng được đọc cũng như thu thập tài liệu về văn chương nhiều nhất.
Nhà văn bị lôi cuốn bởi lối văn giàu chất lãng mạn, trong sáng như pha lê của các tác giả Alphonse Daudet, Anatole France,… dường như lối văn ấy đã ít nhiều ảnh hưởng đến quan điểm sáng tác của ông sau này. 14 Năm 1956, Võ Hồng chuyển xuống Nha Trang và sinh sống bằng nghề dạy học ở các trường tư thục. Tưởng chừng như cuộc sống gia đình đã bình yên thì đến 1957, người vợ tào khang của ông qua đời. Người đàn ông ấy đã tự nguyện không đi bước nữa mà chọn cảnh “gà trống” nuôi con, đứa con đầu khi đó mới 9 tuổi, đứa giữa 6 tuổi và người con út mới chỉ 3 tuổi.
Vừa dạy học vừa sáng tác văn chương nhưng đáng nói là với vị trí nào ông cũng làm tốt, là một người thầy, ông luôn tận tụy với học sinh, với từng bài giảng, có những phương pháp dạy học thú vị để biến kiến thức khô khan trở nên sinh động và gắn liền với thực tiễn đời sống thường ngày. Không chỉ là người thầy có tâm với nghề mà Võ Hồng còn là một người thầy hết sức tâm lý. Trong vai trò là nhà sáng tác văn chương, ông luôn xem văn chương là nơi để thủ thỉ tâm tình, để giải toả những nỗi niềm và là nơi tâm sự về cuộc sống quạnh quẻ suốt đằng đẵng bấy nhiêu năm của mình. Từ năm 2006 trở đi, Võ Hồng lâm bệnh nặng, tuổi lại cao nên đến ngày 31 tháng 3 năm 2013, ông đã trút hơi thở cuối cùng.
Sự ra đi ấy đã để lại nhiều tiếc thương trong lòng những ai yêu mến nhà văn. Sự nghiệp sáng tác của Võ Hồng Trong đời sống văn học trước năm 1975, Võ Hồng đến với văn chương và đời sống một cách nhẹ nhàng, chân thật. Ở giai đoạn này, thế giới sáng tạo của ông đã gắn liền với những chuyển biến lịch sử trong lòng xã hội Việt Nam nói chung và miền Nam Việt Nam nói riêng, song hành đó là đề tài tình yêu. Võ Hồng ý thức rất rõ ngòi bút của mình, ông chưa bao giờ nghĩ rằng đây là một công việc tùy hứng, ngẫu nhiên mà ngược lại rất nghiêm túc và một điều đặc biệt là ông xem việc viết văn như một cách để giãi bày, để tâm tình.
Mặc dù bận bịu với công việc dạy học, chăm con thế nhưng ông chưa khi nào để ngòi bút của mình ngưng lại, Võ Hồng thường viết văn vào khoảng sáng sớm hay khi đã xong công việc gia đình. Thời còn đi học, ông tham gia làm báo tường và cho ra đời tác phẩm truyện ngắn với nhan đề Mùa gặt, lấy bút danh Ngân Sơn, đây có thể xem là sáng tác đầu tiên của Võ Hồng. May mắn là tác phẩm này được chọn in trên báo tường của lớp và còn may mắn hơn nữa khi Mùa gặt được in trên tờ báo của Tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Nhà văn được nhiều bạn đọc và giới phê bình văn học biết đến kể từ khi tác giả 15 cho ra đời tác phẩm truyện ngắn Hoài cố nhân (Ban Mai, 1959).
Truyện ngắn Hoài cố nhân là thiên truyện đánh dấu bước ngoặc lớn trong sự nghiệp văn chương của Võ Hồng và là tác phẩm đầu tiên được xuất bản. Có thể xem, Hoài cố nhân như “giấy thông hành” đưa ông vào con đường văn chương, với tinh thần hoài niệm như một đặc trưng xuyên suốt các trang viết. Sau truyện Hoài cố nhân, Võ Hồng tiếp tục khẳng định tên tuổi của mình trong lòng bạn đọc và giới văn chương nghệ thuật khi liên tiếp cho ra mắt các tác phẩm truyện ngắn. Có thể kể đến hàng loạt các truyện ngắn như Tai họa cuối cùng, Chuyện cái răng đến những năm 1962, nhà xuất bản Thời mới cho in tập truyện ngắn Lá vẫn xanh, rồi Vết hằng năm tháng (Lá Bối, 1965).
Có thể nói, từ những năm 1965 - 1970 được xem là giai đoạn bút lực dồi dào nhất của Võ Hồng. Với vốn sống phong phú hơn nữa ông là người sống trong thời cuộc - chiến tranh loạn lạc, đối diện những biến động mang tính trọng đại của đất nước và những biến cố của cá nhân. Tiếp đó, tác giả đã trình làng bộ tiểu thuyết nổi tiếng Hoa bươm bướm (1966) và hai tập truyện ngắn Con suối mùa xuân (1966), Khoảng mát (1966), đến năm 1968 ông cho ra đời tác phẩm truyện ngắn Bên kia đường, Những giọt đắng và các truyện dài Gió cuốn (1969), Áo em cài hoa trắng (Lá Bối, 1969), Nhánh rong phiêu bạt (Lá Bối, 1970), Trầm mặc cây rừng (Lá Bối, 1971). Như thế, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, Võ Hồng đã công bố những tác phẩm ghi được dấu ấn trong lòng bạn đọc.
Những tác phẩm đó đã khẳng nhận vị thế của nhà văn trong lòng độc giả thế hệ trước năm 1975. Trước năm 1975, những biến động mang tính lịch sử của đất nước, tình hình chính trị rối ren, đời sống của nhân dân lầm than đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều nhà văn, có người chọn đối diện nhưng cũng có không ít người rơi vào trạng thái “tìm quên” - họ cảm thấy ngột ngạt trước thực tại đau đớn, họ nương nhờ tâm hồn vào thế giới họ mong muốn - ở đó chỉ có hạnh phúc, chỉ có tình yêu nồng cháy. Đã không ít nhà văn trong thời kì này “dấn thân” vào những cuộc yêu thác loạn để che đậy thực tại như Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Duyên Anh… nhưng Võ Hồng thì khác, ông không chối bỏ, không lẫn trốn thực tại mà ngược lại tác giả đã biến tất cả những đau thương, biến động ấy trở thành nguồn cảm hứng, 16 nguồn tư liệu cho ngòi bút của mình. Vì lẽ đó, trong thế giới truyện ngắn của Võ Hồng trước năm 1975, ông đã chọn cho mình một con đường đi tích cực - đứng về phía tình thương, tinh thần nhân văn và hiện thực đời sống.
Khi đọc những trang văn của Võ Hồng chắc chắn ta sẽ nhận ra những điều ấy, dưới ngòi bút của mình, bằng một trái tim tin yêu, tác giả đã phần nào xoa dịu được những nỗi đau đớn, bày tỏ thái độ của mình khi đối diện với thực tại. Võ Hồng luôn trăn trở với những vấn đề quan trọng của đời sống, của thời cuộc. Qua ngòi bút của mình, tác giả đã dựng lại bức tranh rộng lớn của lịch sử - tình hình đất nước, đời sống sinh hoạt của con người Việt Nam trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp một cách chân thực qua hai tác phẩm Hoa bươm bướm và Như cánh chim bay. Hai tập tiểu thuyết ấy đã mô phỏng đúng như những gì Võ Hồng từng khẳng định về quan điểm sáng tác của mình: “Tôi chỉ nhằm mục đích văn hóa, muốn ghi lại cho các thế hệ đàn em hiểu rõ những nếp sống của dân tộc trong thời kì chống Pháp.
Hoàn toàn không có mục đích chính trị” [37, tr. Có lẽ, quan điểm này đã giúp cho các sáng tác của Võ Hồng và bạn đọc trở nên gần hơn. Mặc dù không chủ đích đề cập đến chính trị thế nhưng trong trang văn của tác giả, người đọc sẽ nhìn thấy được, cảm nhận được hình ảnh của một đất nước đau thương đang oằn mình chống chọi sự giày xéo của bom đạn, của tiếng khóc thảm thương, tính phi nghĩa của chiến tranh hay đó là tấm lòng thương cảm nồng hậu, xót xa của nhà văn đối với đồng bào, đối với đất nước Việt Nam thân yêu. Trần Hữu Tá đã rất tinh tế khi nhận định về giá trị văn chương của Võ Hồng: Khi đọc truyện của Võ Hồng, cái buồn dịu dàng như cứ phảng phất đâu đây.
Nhưng thật kỳ diệu, tâm trạng của người đọc không bị chùng xuống, yếu đi, mất lòng tin vào cuộc sống, mà ngược lại, như bình tĩnh, thanh thản hơn. Bởi lẽ nhà văn như muốn gửi tặng người đọc một điều trải nghiệm: dù trong hoàn cảnh bi đát đến đâu, con người vẫn có thể tìm được một hạnh phúc giản dị nhưng cần vô cùng, miễn là ai cũng luôn có thái độ cảm thông, có sự tôn trọng yêu thương nhau, quan tâm chu đáo, hết lòng vì nhau [43, tr. 412] Như vậy, các tác phẩm của Võ Hồng trong giai đoạn trước năm 1975 đều tập trung phản ánh hiện thực đầy biến động của đất nước và những đớn đau của cá nhân. 17 Trong quá trình quan sát thời cuộc ấy, ông đã lựa chọn con đường phản ánh, kể/tả về quê hương đang khóc than, đang quằn quại đau đớn vì chiến tranh và những hệ lụy của nó.
Là người đứng bên lề cuộc chiến nhưng ông không hề khoanh tay đứng nhìn một cách vô cảm mà luôn có những trăn trở, thể hiện qua các thiên truyện sâu sắc.