đặt vấn đề. Bất cứ một bài viết nào của ông cũng toát lên những vấn đề lí luận quan trọng (.)” [TNT, 72 – 751, 2007], “để hiểu và lí giải (.) xác đáng những gì ông đã cống hiến, cắt nghĩa cả những giới hạn và điểm dừng trong các công trình của ông, cần làm sáng tỏ hơn nữa những hoàn cảnh mà ông, và (.) những nhà khoa học lớn khác cùng thế hệ ông, đã lâm vào” [TNV, 71 – 17, 2007]. Trong sự nghiệp nghiên cứu, thành tựu nổi bật đầu tiên của Trần Đình Hượu thể hiện ra trước hết trong các công trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học phương Đông nói chung, nghiên cứu về Nho giáo nói riêng và các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam trung cận đại dưới ảnh hưởng của quan niệm văn học Nho giáo. Đọc các công trình nghiên cứu của ông nói chung, các công trình nghiên cứu văn học của ông nói riêng, chúng ta có thể nhận thấy “là một nhà phân tích sắc sảo, nhưng trong các bài viết của mình, (.) Trần Đình Hượu dường như cố tình đánh mờ đi các gai góc, giữ một giọng điệu trung tính, khách quan khoa học.
Nếu chăm chú hơn sẽ thấy ông không bao giờ viết “lịch sử vấn đề”, trích dẫn ý kiến của người này người khác trừ khi cực chẳng đã, Phạm Văn Hưng – Cao học Văn K50, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 4 z Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu tránh đối thoại với những con người cụ thể (.), tránh những va chạm giả để làm việc thực (. Tuy nhiên điều này cũng gây không ít hiểu lầm” [ĐLT, 69 – 84, 2000] bởi “(.) “trích dẫn” ai, không “trích dẫn” ai, “đồng tình” với ai, “bác bỏ” ai. mỗi một trong những “cử chỉ vụn vặt” ấy đều có thể gây phiền toái, thậm chí là những phiền toái mang ý nghĩa ý thức hệ!” [TNV, 71 – 41, 2007] mà chỉ lớp người thuộc thế hệ ông mới thấm thía hết những khó khăn đó. Điều này chúng ta cũng dễ thấy qua bộ giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 mà ông là tác giả chính và đồng tác giả với Lê Chí Dũng.
Trong giáo trình này, tính theo số trang, ông viết khoảng hai phần ba, trong đó các phần do ông viết hầu như ít chú thích, phần của Lê Chí Dũng các chú thích nhiều hơn, rõ ràng hơn và cũng “khoa học” hơn. Sống trong một giai đoạn mà “ông Văn Tân đã phải từ bỏ cố gắng khi đề xuất việc phân kì văn học phải dựa vào các sự kiện văn học” [VT, 49 – 1025, 2002], “không khí tiếp nhận dễ làm nản lòng người viết” [HMĐ, 1- 16, 2006], Trần Đình Hượu đã giữ một thái độ sống “kiên trì những nguyên tắc “mang tính tối hậu”, và những nguyên tắc đó trong hầu hết những tình huống cụ thể, lại níu kéo, giữ ông lại với một sự lựa chọn hết sức khó khăn: chấp nhận tình trạng “bất phùng thời” của mình” [TNV, 71 – 17, 2007]. Trần Đình Hượu luôn nhìn ra những mặt trái của cách nghĩ thông thường và tìm cách điều chỉnh bằng những kiến giải mang tính hệ thống từ góc độ hệ tư tưởng và từ trong những trang viết của ông người đọc luôn thấy toát lên một tinh thần đối thoại. Theo những cách hiểu thông thường và những cách hiểu được khu biệt cho từng trường hợp nghiên cứu chúng ta có thể thấy “đối thoại” là “sự giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc nhiều người) với nhau (.) trong đó sự chủ động và sự thụ động được chuyển đổi luân phiên từ phía này sang phía kia (.); mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi phát ngôn có trước và là sự phản xạ lại phát ngôn ấy” [LNÂ, 79 – 448,.] và hơn nữa, mượn cách nói “ngoài cái thực tại tồn tại bên cạnh nhà nghệ sĩ, anh ta còn có quan hệ với văn học trước đó và Phạm Văn Hưng – Cao học Văn K50, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 5 z Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu văn học cùng thời với mình, văn học mà anh ta luôn cùng nó “đối thoại”, và cuộc “đối thoại” này được hiểu như cuộc đấu tranh của nhà văn với những hình thức văn học hiện tồn” [I.
I, 54 – 441, 2003], chúng ta có thể nói: Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu được thể hiện trên các phương diện sau: + Nó thể hiện ở cách tư duy độc lập, không theo thời, không chạy theo một thứ mốt hay một thứ khuynh hướng ồn ào nào, không chấp nhận các loại áp lực khác nhau như một số người đương thời, cho dù phải chịu những thiệt thòi nhất định trong học thuật ở một thời điểm nào đó. + Từ cách tư duy độc lập đó, ông đưa ra cách hiểu, cách nghĩ, cách giải quyết những vấn đề mà mình đối mặt khác với những người đi trước hoặc cùng thời với những kiến giải độc đáo, mới mẻ và nhất quán. Ông tự tin trong vai trò hướng đạo “cắm những tiêu vè” gợi mở những cách nhìn, những hướng đối thoại cho những người đến sau. + Và trên hết, những đối thoại của ông là đối thoại ngầm.
Rất ít khi ông tỏ rõ phản biện ai, chỉ nói rất chung chung như “có người thấy”, “có người nói”, “những cái người ta viết”… nên chỉ những người chịu để ý hay chính người mà ông phản biện mới biết ông đối thoại với ai và về vấn đề gì. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đánh giá những cống hiến của Trần Đình Hượu, cả trong nghiên cứu triết học - lịch sử tư tưởng và nghiên cứu về văn học, như Phan Ngọc, Lại Nguyên Ân, Đỗ Lai Thuý, Trần Nho Thìn, Trần Ngọc Vương. Tuy nhiên, những bài viết, những đánh giá đó mới chỉ “đọc” Trần Đình Hượu về đại thể hoặc chỉ ở một khía cạnh nào đó. Ở đây chúng tôi sẽ góp phần làm tiếp và có những so sánh, đánh giá, phản biện cần thiết.
Đi vào tìm hiểu riêng Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu, Luận văn sẽ khôi phục lại bối cảnh lịch sử, nêu lên những điểm khác để làm nổi bật những đóng góp- chủ yếu nhấn mạnh những đóng Phạm Văn Hưng – Cao học Văn K50, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 6 z Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu góp- cũng như những điểm dừng của ông vì muốn đánh giá đúng đắn một nhân vật lịch sử, bao giờ chúng ta cũng phải đặt nhân vật đó trong tương quan với thời đại mà nhân vật ấy sống và hoạt động. “Nguyên tắc lịch sử cụ thể này cần được vận dụng để hiểu đúng Trần Đình Hượu với những đóng góp của ông đối với lĩnh vực nghiên cứu lịch sử văn học trung đại Việt Nam trong những thập niên 60, 70, 80” [TNT, 72 – 751, 2001] bởi Trần Đình Hượu là một người luôn ý thức rằng “công hay bất công với một người nào đó có lẽ cũng không quan trọng bằng hiểu đúng hay hiểu sai lịch sử” [TĐH, 72 – 128, 1991]. Đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải đánh giá những công trình nghiên cứu của ông bằng cái nhìn lịch sử cụ thể đó. Tất nhiên, trên thực tế, có không ít nhà nghiên cứu đã thay đổi quan điểm theo thời gian.
TRước đây, họ đã từng lên án Nho giáo gay gắt thì giờ đây, họ có thể lại đánh giá Nho giáo khách quan. Tinh thần đổi mới và những thông tin phong phú về tình hình nghiên cứu Nho giáo trên thế giới đã thay đổi nhãn quan của họ. Từ góc độ này, ta lại càng thấy rõ hơn bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược đúng đắn, xa rộng của TRần Đình Hượu. Việc nhìn TĐH từ góc nhìn của tinh thần đối thoại còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc tiếp nhận TĐH trong giới trí thức trẻ hiện nay và những người quan tâm tìm hiểu TĐH đang sống ở hải ngoại vốn dễ mang những định kiến và thành kiến của thời hiện đại hoặc của nền văn hóa- chính trị dân chủ Tây phương nên không hiểu đúng, đánh giá đầy đủ, khách quan những thành tựu và những khó khăn của ông.
Về mặt này, luận văn của chúng tôi thực chất mang tinh thần của cách tiếp cận “thông diễn học” và “văn hóa học”. Phạm Văn Hưng – Cao học Văn K50, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 7 z Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu CHƢƠNG I TRẦN ĐÌNH HƢỢU VỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NHO GIÁO TỚI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VÀ VIỆC PHÂN LOẠI BA MẪU NHÀ NHO 1.1 Bối cảnh chung của việc nghiên cứu Nho giáo những năm 50 - 80 của thế kỉ XX Nho giáo là một học thuyết đạo đức – chính trị mang màu sắc tôn giáo đã ra đời 2500 năm gắn với tên tuổi của bậc chí thánh - người sáng lập ra nó là Khổng Tử. Trong suốt thời gian tồn tại, nó gắn liền với vận mệnh các nước Đông Á gồm Trung Quốc và các nước đồng văn là Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Bước vào thời hiện đại, Nho giáo đã rút lui khỏi vị trí là học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng trong các quốc gia Đông Á tuy nhiên ảnh hưởng của nó tới xã hội chưa phải đã hết và luôn là một đối tượng nghiên cứu hấp dẫn nhưng cũng đầy thăng trầm của lịch sử.
Ở đây Luận văn điểm qua tình hình nghiên cứu, đúng hơn là cảm hứng nghiên cứu Nho giáo tại các quốc gia Đông Á trong những thập niên 60, 70 và 80 của thế kỉ XX làm bối cảnh cho những đánh giá về Trần Đình Hượu. Chính bối cảnh chung đó mà tiêu biểu là Trung Quốc và Việt Nam là hai môi trường nghiên cứu tạo bối cảnh “xa - gần” có ảnh hưởng trực tiếp đến Trần Đình Hượu.1 Nho giáo và số phận của nó trong những công trình nghiên cứu ở Trung Quốc thập niên 50 - 80 thế kỉ XX. Đầu thế kỷ XX, các trí thức Trung Quốc tân học như Lỗ Tấn, Hồ Thích, Lâm Ngữ Đường đã phê phán Nho giáo mạnh mẽ trên tinh thần đổi mới, Âu hóa nước Trung Hoa già nua, lạc hậu và bảo thủ. Nhưng sau năm 1949, tính định hướng chính trị và quan điểm đấu tranh giai cấp đã chi phối mạnh mẽ sự phê Phạm Văn Hưng – Cao học Văn K50, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 8 z Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu phán Nho giáo của giới nghiên cứu Trung Quốc.
Vì nghiên cứu theo định hướng nên thiếu khách quan trong phân tích và nhận định thiếu thuyết phục.