chương 1 Chương 2: Khảo cứu và giới thiệu văn bản “Hưng Hóa ký lược” 2. Các thuật ngữ và khái niệm liên quan 2. Thuật ngữ “Văn bản” 2. Khái niệm “Văn bản học” 2.
Giới thiệu về văn bản “Hung Hóa ký lược ” 2. Số lượng văn bản, hiện trạng từng văn bản Tiểu kết chương 2 Chương 3: Giá trị của tác phẩm “Hưng Hóa ký lược” 3. Giá trị lịch sử 3. Diên cách địa lý hành chính các khu vực trong tỉnh Hưng Hóa xưa 3.
Nhân vật và sự kiện lịch sử 3. Giá trị về việc nghiên cứu di tích văn hóa các đình, đền, chùa 3. Giá trị về mặt nghiên cứu dân tộc học 3. Giá trị y học và sản vật 3.
Giá trị về ngôn ngữ, chữ viết 3. Ngôn ngữ Tiểu kết chương ba PHAN KẾT LUẬN 1. Về các văn bản của "Hưng Hóa ký lược ” 2. Về tác phâm “Hung Hóa ký lược ” 3.
Về giá trị tác phẩm. TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Phụ lục 1: Các địa danh xưa và nay Phụ lục 2: Bảng phiên âm chữ Thai PHAN NOI DUNG CHUONG 1: TAC GIA VA HOAN CANH RA DOI TAC PHAM 1. Cuộc đời và sự nghiệp của Pham Than Duật Phạm Thận Duật (1825 — 1885), hiệu là Vọng Sơn, tên chữ là Quan Thành, quê xã Yên Mô Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Văn thần thời Tự Đức.
Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, có ba anh em trai. Bố mat năm ông mới lên 9 tuổi, một mình mẹ tần tảo nuôi mấy anh em. Tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng ông vẫn được đi học, lần lượt học qua các thầy: cử nhân Vũ Phạm Khải, cậu ruột là Nguyễn Hữu Văn, ông đồ Phạm Tư Té, ông Lục Khê cư sĩ Phạm Triệu, Hoàng giáp Tam đăng Phạm Văn Nghị. Năm 1850, đỗ cử nhân khi mới 26 tuổi.
Một năm sau, năm 1852, ông được bé làm Giáo thụ phủ Doan Hùng (lúc ấy là tỉnh Son Tây), một chức giáo quan dạy trường công ở phủ. Năm 1855, ông được thăng làm Tri châu Tuần Giáo (thời ay thuộc tỉnh Hưng Hóa), đây cũng chính là thời gian ông viết tác phẩm “Hung Hóa ký Tược ”. Năm 1857, Phạm Thận Duật được điều về tỉnh Bắc Ninh làm Tri huyện Qué Dương. Hai mươi năm liền, ông hầu như chỉ ở tỉnh Bắc, đảm nhiệu các chức quan từ đầu huyện lên đến đầu tỉnh.
Năm 1858, khi thăng Tri phủ Lạng Giang (vẫn kiêm Tri huyện Qué Duong), 6ng duge cu về chấm thi trường Nam Định, nơi thầy học là ông 14 Hoàng giáp Pham Văn Nghị đang giữ chức Đốc học. Khi đó, ông được thầy dâng biểu tiến cử lên triều đình, Tự Đức sai ghi lại để đợi dùng. Cham thi xong, Pham Thận Duật trở về Bắc Ninh, giữ chức vụ cũ va phai đương đầu với nạn phi ở địa phương, một tình the chung cực kỳ rối ren ở các tỉnh thượng du và trung du ngày ấy. Năm 1863 về Kinh làm Viên ngoại lang Bộ Lễ, nhưng ngay sau đó không lâu lại được cử về Bắc Ninh làm Bang biện tỉnh vụ, kiêm Đồn điền sứ khai khan đất hoang (năm 1866).
Năm 1868 làm Án sát Nghệ An, nhưng ngay sau đó vào năm 1870 lại được gọi về thăng chức Bồ chính. Cùng với Tiéu phủ Ông Ích Khiêm đương dau va dep tan quân phi do Ngô Côn (trùm Thanh phi) cầm dau. Rồi lần lượt giữ các chức Tuần phủ Bac Ninh, Hộ lý Tổng đốc Ninh — Thái. Cuối năm 1876, ông được điều về Kinh làm Tham tri Bộ Lại, kiêm Phó Đô ngự sử Viện Đô sát.
Sau 25 năm làm quan ngoài, vừa nhận lấy cương vị thứ hai trong Bộ Lại và Viện Đô Sát chưa được hai tháng, Phạm Thận Duật lại trở ra Bắc với chức vụ Khâm sai kinh lý hà đê sứ, chỉ huy việc trị thủy vùng tả ngạn sông, Hồng. Thật khó mà đánh giá được kết quả cụ thể công việc trị thủy ở 6 tỉnh tả ngạn sông Hồng do ông chỉ huy trong thời gian này. Vì những năm ông được giao trách nhiệm lại đúng là những năm có nước lũ cực ky lớn, hoành hành gây tác hại quá nghiêm trọng. Điều đáng ghi nhận là toàn bộ các quan điểm và biện pháp trị thủy của ông trong hoan cảnh cụ thể ay, có thé nói là rất thực tiễn và hợp lý so với quan điểm khác đương thời.
Các tờ tâu của ông trong dịp trị thủy này, nhất là các kiến nghị miễn thuế, cứu trợ dân lụt càng biểu hiện một tắm lòng cảm thông cùng sự quan tâm của ông đối với dân chúng đang bị chìm đắm trong cảnh mênh mông lũ lụt và đói rét. Khoáng cuối thu 1878, Phạm Thận Duật trở về Kinh, ông được thăng Thượng thư Bộ Hình sung Phó Tổng tài Quốc sử quán, kiêm quản Quốc tử 15 giám và được giao việc khảo duyệt bộ Việt sử thông giám cương mục. Năm 1879 ong được cử làm đại thần Viện Cơ mật. Năm 1882 ông được Tự Đức giao trách nhiệm là Sư bảo Dục Đức đường và Chánh Mông đường, tức thầy dạy trực tiếp cho hai ông hoàng Ung Châu và Ưng Đường - sau này là vua Dục Đức và Đồng Khách.
Ngày 6 — 2 — 1883, Phạm Thận Duật được cử lam Kham sai Chánh sứ sang Thiên Tân cùng với Phó sứ Nguyễn Thuật và đoàn tùy tùng gan hai chục người. Ngày 26 — 1 — 1884, ông mới về đến Huế. Thời gian này, ông được chuyển sang làm Thượng thư Bộ Hộ. Giữ chức Thượng thư Bộ Hộ trong tình hình nền kinh tế - tài chính đang vô cùng kiệt qué.
Hang năm, triều Nguyễn phải nộp các khoản đền bù chiến phí cho thực dân Pháp. Các nguồn thuế thương chính đã bị Pháp chiếm thu hầu hết. Chiến tranh tàn phá, mùa màng thất bát, vật giá tăng cao, tiền tệ hỗn loạn vì nạn tiền giả, nạn quan lại tham nhũng càng hoành hành. Do đó, dưới quyền điều hành của Phạm Thận Duật, Bộ Hộ đã xử lý nghiêm khắc đối với những vụ án kinh tế để làm răn.
Hàng chục kẻ giữ số sách, kho tàng bị chém. Nhiều quan đầu tỉnh bị kỷ luật giáng phạt và chia nhau bồi hoàn. Về chính sách tiền tệ, ông cũng thi hành biện pháp cứng rắn đối với bọn đầu cơ, lưu hành “tiền đồng kiểu khác” (tiền không phải do nhà nước đúc), nhất là ở các tỉnh Trung Kỳ. Một loạt khách buôn bị phát giác, lúc đầu bị kết án phạt trượng, nhưng Bộ Hộ cương quyết xin xử án chém và thông báo cho các nơi cùng xử với mức nặng nhất như vậy, kể cả những kẻ buôn tiền đồng thật của ta bán ra nước ngoài.
Dù tài chính có thiếu thốn, song ta vẫn thấy rõ phần nào chính sách khoan dân trong thời gian này thông qua công việc của Bộ Hộ. Một số tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ vừa trải qua binh lửa, những địa phương bị thiệt hại dân đều được miền hoặc giảm thuê. 16 Ngoài chức trách là Thượng thư Bộ Hộ, Phạm Thận Duật còn có tư cách là một giáo quan cao cấp, nên mùa xuân nam 1884, ông được chỉ định lần thứ hai làm Sư bảo Kiên Giang Quận công (tức Ưng Đường, vua Đồng Khánh sau này). Lần này nhiệm vụ của ông không phải chỉ là giảng dạy ông Hoang mà còn là ran bảo, kiềm chế những thái độ ngông ngạo, buông tuồng của ông ta như phi ngựa bạt mạng ngoài phố hoặc bỏ đi chơi hàng dam bảy ngày.
Đến nỗi Tôn nhân phủ (cơ quan quản lý hoàng tộc) phải xin vua ủy cho ông làm việc ấy. Mà cũng có thé đó chính là biện pháp giám sát, phòng xa những âm mưu tranh chấp nguy hiểm trong nội tộc nhà Nguyễn. Tháng 6 năm 1884, ông được cử làm Toàn quyền đại thần cùng Quyền Thượng thư Bộ Công Tôn Thất Phan là phó dẫn đầu phái đoàn thay mặt triều đình nhà Nguyễn kí hiệp ước Patơnốt. Nội dung bao trùm bản hiệp ước là: Việt Nam phải chấp nhận nhận sự bảo trợ của Pháp trên phần đất Trung Kỳ và Bắc Kỳ (Nam Ky lúc này đã là thuộc địa của Pháp), và dé cho Pháp nắm toàn quyền đối ngoại của Nam triều va chỉ đạo các hoạt động của các viên Công sứ Pháp ở Bắc Kỳ; Pháp năm độc quyền thương chính ở Việt Nam và được tự do lựa chọn địa điểm đóng quân trên toản lãnh thd Việt Nam.
Năm Át Dậu (1885), ông cùng Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghỉ xuất bôn, kháng Pháp. Bị giặc bắt, ông bất khuất, chúng đưa ông xuống tau đi day sang châu Phi, giữa đường ông mat, xác bị ném xuống biển, trong năm 1886 (khoảng ngày 6 tháng 9). Ông là tác giả của những cuốn sách: - Hưng Hóa ký lược - Vang sw Thiên Tân nhật ky - Hà đê bộ văn tap - Hà đê tấu tư tập - Như Thanh nhật trình - Quan Thành văn tap V- be [MAY 17 1. Tác phâm và hoàn cảnh ra đời của tác phầm Như trên, chúng ta đã biết “Hung Hóa ký lược ” là một tác phẩm dư địa chí do Pham Thận Duật biên soạn vào những năm ông giữ chức Tri châu Tuìn Giáo.
Tuy nhiên sự ra đời của công trình “khoa học” này cụ thé như thé nao, chúng tôi xin trình bày như sau: 1. Thời gian, hoàn cảnh ra đời tác phẩm Căn cứ vào quãng đời làm quan của Phạm Thận Duật, chúng ta đưa ra phòng đoán tác phẩm “Hung Hóa ký lược ” có thé được biên soạn vào khoảng thời gian tác giả làm Tri châu Tuần Giáo. Tuy nhiên, phỏng đoán này cũng khing mấy thuyết phục, vì có thể trong thời gian giữ chức tại Tuần Giáo, Phạm Thận Duật đã tìm tòi, thu thập thông tin về xứ đó, tập hợp thành tài liệu để đó rồi sau này mới viết thành tác phẩm. Khả năng này có thể xảy ra, song chang ta căn cứ vào nội dung lời Tựa tác pham dé đưa ra năm biên soạn chính thưc.
Lời tựa bản A.91 như sau: Phiên âm: Hưng Hóa kỷ lược tựa. Tiên nho vân: khẩu sở đục ngôn, kí ngôn cổ nhân khẩu; thủ sở dục thư, kí thư cổ nhân thi. Cái cổ nhân tác trứ cực bị, hậu khả di vô phục chuế hĩ! Duật khứ niên thừa phiếm phạp Hung Hóa chi Tuan giáo, phỏng tri Lê tiền Hoang doc dong, ngã triều Tran hiệp tran Nguy phủ viện, giai hữu Hưng Hóa tụ, lụy cấu chỉ, phát hoạch. Hạnh thuật đắc Tự Đức tứ niên tỉnh tr Hàn lâm vien sách nhất tap, kim hựu ké dac Tran hiép tran “Hưng Hoa lục ” nhất tập, néi tran chỉ di tịch độc.
Thời xuất tư chi, vưu hữu kính ngộ phat dé như túy tư tỉrh, như mộng tư giác hi! Sở vị cổ nhân chỉ khẩu, cổ nhân chỉ thủ, kì bất tại tu hô?