CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE HOI KI 1.1 Giới thuyết về thé loại hồi ki 1.1 Định nghĩa hồi kí Theo 150 thuật ngữ văn học “Tác phâm hồi kí là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải là tôi hư cấu ở một số tiểu thuyết, truyện ngắn), kế về những sự kiện trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến. Hồi ký rất gần với nhật ký ở hình thức giãi bày, ở chỗ không dùng các thủ pháp cốt truyện, ở cách ké theo thứ tự thời gian, ở việc chú ý đến các sự kiện mang tinh chất tiểu sử” (1;155). Sách Tir điển văn học định nghĩa “Hồi kí: còn được gọi là hồi ức (.) Lời văn của hồi kí cốt xác đáng, trung thực, giàu suy nghĩ và cảm tưởng cá nhân” (10;319). Tir điển thuật ngữ van học quan niệm Hồi ki là ghi chép AW? dựa trên sự hồi tưởng lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người chứng kiến hoặc tham dự”, “là thể văn thuật lại những sự việc mà tác giả đã trải qua hoặc chứng kiến, phần nào có mối liên hệ với thời đại” (9:61).
Như vậy, hầu hết các từ điển đều thống nhất cho rằng hồi kí có tính xác thực về sự kiện và tính chủ quan của người viết. Ở châu Âu, hồi kí ra đời sớm, từ thời cổ đại Hi Lạp phát triển liên tục ở các thời trung đại, Phục Hưng, Khai Sáng, cho đến hiện nay. Trong văn học hiện đại, hồi kí là thể loại thông dụng, với rất nhiều tác phâm nỗi tiêng của các nhà văn tiêu biéu. Hồi kí vì thé trở thành nguôồn cung cấp thông tin về tiểu sử, về tư liệu lich sử, xã hội.
Nhưng không phải tất cả hiện thực xã hội, hay tất cả tiểu sử cuộc đời đều có trong hồi kí mà chỉ những phần hiện thực thuộc về tầm nhìn, thuộc về quãng 10 thời gian mà người viết trực tiếp trải qua và thực sự mới được tái hiện. Cho nên trong hồi kí, nhân vật chính, vẫn là cái tôi cá nhân của tác giả, người cung cấp thông tin về con người, hiện thực quanh mình. Như Huy Cận nói: Viét hồi ki là sống lại một lần nữa cuộc đời mình, mà cũng là san sẻ cho người khác trong thiên hạ vui buôn của minh, thân phận của mình và phan nào những trải nghiệm doc đời tôi đã sống. Có nhiều nhà văn lớn viết hồi ki và không ít trường hợp, các cuốn hồi kí đó đã trở thành sáng tác làm nên sự nghiệp văn chương của họ.
Hồi ký thường mang đậm tinh chủ quan, các sự kiện được ké lại ở đây là ấn tượng của trí nhớ nhưng không phải lúc nào cũng chính xác và đầy đủ tuyệt đối. Kí ức luôn bị bao phủ bởi lớp sương mờ ảo của thời gian, cho nên đôi khi những sự kiện, thông tin từ hồi kí còn mang tính phiến diện, chủ quan. Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó những sự thiếu hụt về sự kiện, sự phiến diện đó lại được bù đắp băng sự diễn đạt sinh động của tác giả. Chính điều này đem đến cho hồi kí giá trị như một tư liệu của đương thời.
Do không đòi hỏi nhiều ở tính định hình cau trúc và định hướng thẩm mĩ nên một số tác phẩm hồi kí có mối quan hệ gần giống VỚI: văn xuôi lịch sử, truyện, chân dung văn học, tự truyện, nhật kí. Tôn trọng tính chân thật về số liệu, thời gian, địa điểm hồi kí gần với văn xuôi lịch sử và có cốt truyện, tình tiết, đề tài cuộc sống như truyện. Ở một phương diện nào đó, khi các nhà văn, nhà thơ viết hồi kí, nhớ lại về bạn bè, về đồng nghiệp thì hồi kí gần với chân dung văn học. Nhưng phải nói răng hồi kí giống với nhật kí và tự truyện hơn cả.
Nhật ký là loại văn ghi chép hàng ngày, vốn thiên về tóm tắt sự kiện đang diễn ra trong chính cuộc sống thường nhật của người viết theo hình thức trần thuật ngôi thứ nhất số ít, có đáng số ngày tháng. Nhật kí là sự ghi chép lại câu chuyện, cảm xúc của cá nhân, nó thường rât chân thành, không hê có yêu tô hư 11 cấu hay bịa đặt. Nhật kí ghi lại những gì đã xảy ra, đã trải nghiệm. được viết ra chỉ cho ban thân người ghi chứ không tính đến việc công bố ra dư luận.
Người viết nhật kí tôn trọng sự thật, nhưng cũng có cách đánh giá theo cảm nhận chủ quan của mình. Nhật kí giống hồi kí ở chỗ không có sự cách biệt giữa thời gian viết và thời gian được nói tới. Tự truyện bao gồm cả yếu tô truyện (hình thức, một thể loại tự su) va yếu tô tự thân (nội dung, bản thân) của người của người viết truyện. Tác phẩm tự truyện thường có thiên hướng lý giải cuộc sống đã qua của tác giả như một chỉnh thé, tạo nên những đường nét mạch lạc cho cuộc sống kinh nghiệm của mình.
Người viết tự truyện có khi vận dung hư cấu, thêm that hoặc xắp xếp lại các chi tiết của cuộc đời mình. Nếu tác giả tự truyện thường tập trung vào quá trình hình thành và lịch sử thế giới nội tâm của mình trong sự tương tác với thế giới bên ngoài, thì hồi ký thường lưu ý trước hết đến thế giới bên ngoài ấy, với những con người, cảnh quan đã được tác giả tiếp xúc, nêm trải. Sự khó khăn trong việc phân định loại thể của tự truyện so với hồi ký sẽ chỉ được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học giải quyết với từng trường hợp cụ thể, tác pham nhấn mạnh ở khía cạnh tự truyện hơn hay hồi ký hơn, mà thôi. Trong thực tế sáng tác, hồi ký có thé được khai thác theo nhiều hướng.
Có tác pham chủ yếu nhằm miêu tả cuộc sống khách quan với những bức tranh xã hội rộng rãi mà người viết có dip chứng kiến và thé nghiệm. Tác gia ít nói đến minh, cái tôi như lui về bình diện thứ hai, còn nhân vật chính là quần chúng, là nhân dân.2 Quan niệm về hôi kí của người viết Viết hồi kí là một nhu cầu chính đáng của con người nhằm ké lại cuộc đời của mình hoặc một giai đoạn lịch sử mà mình là nhân chứng tham gia. 12 Hồi kí là thé loại đặc biệt. Nó làm sống lại thời kì lịch sử mà tác giả đã trải qua với những dấu tích độc đáo về mọi phương diện của cuộc sống.
Hôi nghĩa là quay lại, trở lại. Hồi kí nghĩa là ghi lại những sự việc, sự kiện thuộc về quá khứ đã đi qua, nó là phần hồi ức, kỉ niệm sâu đậm của người viết. Mọi câu chuyện trong hồi kí đề được khơi lại từ màn sương kí ức của tác giả. Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí kế lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ, thuộc về cái đã qua.
Hồi kí có thé nặng về người hoặc việc, có thé theo dạng kết cấu - cốt truyện hoặc kết cấu — liên tưởng. Trên cơ sở những ấn tượng của hồi ức, người viết hồi kí tiếp nhận và ghi chép lại hiện thực ở bình diện ngôi thứ nhất. Vi vậy, hồi kí có thé không tránh khỏi phiến diện, mang tính chủ quan. Theo quan niệm của nhà văn Tô Hoài, một người có rất nhiều tác phẩm hồi kí xuất sắc, muốn viết cho được hồi kí, người viết rất cần có sự dũng cảm và trung thực.
Trong cuộc sống bon bé phức tạp, dám nhìn thắng vào sự thật là một điều hết sức đáng quý. Không phải ai cũng sẵn sang và đủ bản lĩnh dé đối đầu lại với những cái đã qua đặc biệt là những cái đã qua mang ấn tượng không vui, không tốt đẹp. Viết hồi kí, cũng như sáng tác các thê loại khác cần phải có tài năng, kinh nghiệm sống dồi dào được đào sâu tích luỹ từ hiện thực khách quan. Nếu ai cho răng viết hồi kí là dé dàng bởi chỉ đơn thuần là trần thuật lại sự việc, biến có, kỉ niệm theo trí nhớ thì thật sai lầm.
Nhớ lại quá khứ thì dé, nhưng làm sông dậy quá khứ ấy lại chăng dễ chút nào. Trải qua biết bao nhiêu phong ba bão táp của lịch sử với cả vinh quang và cay đăng, con người càng muốn được viết lại, ôn lại kí ức. Nhiều cái hồi trẻ ta thấy đúng thấy hay, về già lại thấy sai thấy xấu, đó cũng là đối cực tạo cảm xúc, nhu cầu muốn viết lại. Thời đã qua đối với người đọc mọi thế hệ đều là kho thông tin bí mật và giàu có đê có thê hiệu sâu sac hơn về xã hội về cuộc đời.
Hôi kí giông 13 như những thước phim quay ngược lại để “xem” lại những gì mình trải qua trong quá khứ. Hỏi kí ghi nhận lại dòng hồi tưởng, hồi ức bằng trí nhớ nhớ về những sự việc đã xảy ra đối với bản thân trong quá khứ. Tất nhiên chỉ những sự kiện thực sự có ấn tượng mạnh mới đủ sức in sâu đậm trong tâm trí người viết, ít có yếu tố hư cấu, thường ké ở ngôi thứ nhất. Hồi kí rất gần với tiểu thuyết tự truyện khi cùng khai thác về cuộc sống của cá nhân mình và đem vào đó cuộc sông của nhiều người khác nữa.
Viết hồi kí là thêm một lần được “sống lạ như Lưu Trọng Lư đã nói. Thời gian cuộc đời chang chờ đợi ai cả, chăng cho ai cái quyền được thắm lại lần thứ hai. Nhưng con người hoàn toàn có quyền cho mình cơ hội được là mình, được kinh qua lại những cảm giác xa xưa bằng cách hồi tưởng, băng cách nhớ nhung. Và tất nhiên bao giờ niềm thương, nỗi nhớ ấy cũng dé lại trong tâm hồn chúng ta sự xót xa vì hoài niệm và nhớ tiếc, “tiếc nhớ những cái gì chỉ đến một lần mà thôi” (Lưu Trọng Lu).
Tôn trong và yêu thương quá khứ là tôn trọng và yêu thương bản thân mình. Dù cái ngày đã qua nhiều tiếng cười hay thấm đẫm nước mắt nó van là một phần không thé nào chối bỏ. Soi vào kí ức là dé nhận ra minh, dé được cùng buồn, cùng vui với cái ngày xưa. Mười năm trở lại đây, khi các tác phâm văn học ít gây được tiếng vang đối với bạn đọc thì các cuốn hồi kí hay tự truyện xuất bản và không xuất bản lại tạo ra một làn sóng xã hội mạnh mẽ.
Vậy tại sao hồi kí lại thu hút được đông đảo người viết và người đọc trong xã hội Việt Nam những năm gần đây đến như vậy? Sự phát triển mạnh mẽ của nó có đơn thuần chỉ là su a dua theo trào lưu hay thực sự là nhu cầu tự thân của người viết?