Mở đầu là truyện ngắn Bức tranh (đƣợc nhà văn viết từ năm 1976 nhƣng phải đến năm 1982 mới đƣợc công bố). Truyện kể về nhân vật ngƣời họa sĩ, vì tự ái nghề nghiêp mà ông đã từ chối vẽ bức tranh chân dung cho ngƣời chiến sĩ để anh gửi về cho ngƣời mẹ già ở quê đang đau lòng ngóng trông con. Ngày hôm sau, ngƣời họa sĩ gặp lại anh chiến sĩ với vai trò là ngƣời thồ tranh giúp mình. Trên đƣờng chiến sĩ ấy giúp ngƣời họa sĩ vƣợt qua dòng lũ.
Sau chặng đƣờng ấy, chính ngƣời họa sĩ xin đƣợc vẽ chân dung ngƣời chiến sĩ cùng lời hứa sẽ đƣa đến tận tay cho bà mẹ. Thế nhƣng ngƣời họa sĩ đã quên đi mất lời hứa của mình. Ông gửi bức tranh đó đi dự triển lãm, đoạt giải và trở thành ngƣời nổi tiếng. Trong một lần tình cờ đi cắt tóc ngƣời họa sĩ đã gặp lại ngƣời chiến sĩ năm nào, lúc này anh đang làm nghề cắt tóc và bà mẹ mù vì khóc con quá nhiều.
Lƣơng tâm ngƣời họa sĩ hết sức dằn vặt, còn ngƣời chiến sĩ lại thản nhiên làm công việc cắt tóc của mình nhƣ không hề nhận ra ngƣời họa sĩ năm xƣa. Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành(tập truyện ngắn,1983), là câu chuyện về ngƣời đàn bà tên Quỳ, với những kỷ niệm vui buồn thời chiến tranh. Quỳ yêu anh trung đoàn trƣởng Hòa- một con ngƣời con trai đáng mặt nam nhi quân tử, tập trung “tất cả tinh hoa của nam giới”. Yêu Hòa nhƣng Quỳ lại đòi hỏi nơi anh phải nhƣ một “thánh nhân”.
Sau khi Hòa hy sinh, Quỳ luôn dằn vặt, khổ đau. Sau này, cô lấy Ph (bạn cũ của Hòa) làm chồng. Rồi tai họa rơi xuống, Ph bị đi tù. Quỳ luôn sống trong những mộng tƣởng.
Vì thế, mà ngƣời ta đƣa cô vào bệnh viện tâm thần. Câu chuyện đƣợc Quỳ kể lại với ngƣời bạn cùng bệnh viện Tâm thần. Bến quê (1985), tác phẩm kể về nhân vật Nhĩ- anh đã từng đặt chân đến nhiều nơi trên trái đất. Do mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, Nhĩ không thể dịch chuyển nên cuối đời cuộc sống của anh bị cột chặt vào chiếc giƣờng bên cạnh cửa sổ.
Từ cửa sổ bên giƣờng bệnh, anh nhìn sang bãi bồi bên kia sông Hồng. Trong khoảng thời gian ấy Nhĩ đã phát hiện ra một vẻ đẹp bình dị mà hết sức 15 quyến rũ nơi bến quê quen thuộc của vùng đất bên kia. Và cũng chính trong lúc nằm trên giƣờng này Nhĩ mới thấu hiểu đƣợc hết nỗi nhọc nhằn, đức hy sinh, tình yêu thƣơng thầm lặng vô bờ bến của vợ mình. Anh khao khát một lần đƣợc đặt chân lên bãi bồi bên bờ sông kia.
Nhƣng hiện thực mới khốc liệt làm sao, cái khao khát tƣởng nhƣ dễ thực hiện ấy với anh bây giờ lại rất xa vời, khó thực hiện. Chính vì thế, Nhĩ đã gửi gắm khát vọng cháy bỏng của mình lên ngƣời con trai. Anh nhờ con trai mình thay mình đặt chân đến bên kia bờ sông. Tuy nhiên, ngƣời con đã không hiểu đƣợc mong muốn của cha mình, nên trên đƣờng sang bờ bên kia sông, nó đã bị hấp dẫn bởi những trò chơi bên đƣờng, để rồi bị lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày.
Từ đó, Nhĩ đã rút ra đƣợc một quy luật đầy tính nghịch lí của cuộc sống: "Con ngƣời ta khó tránh khỏi cái vòng vèo, chùng chình, phải dứt ra khỏi nó để hƣớng tới những giá trị đích thực của cuộc sống". Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (1987) kể về cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ giữa nghệ sĩ Phùng với gia đình ngƣời đàn bà hàng chài. Để có một bộ ảnh về thuyền và biển cho năm mới, theo sự phân công của trƣởng phòng. Nghệ sĩ Phùng đã đi đến vùng biển- nơi trƣớc đây anh đã từng chiến đấu.
Sau nhiều ngày “phục kích”, nghệ sĩ Phùng đã chụp đƣợc một bức ảnh tuyệt đẹp, một cảnh đắt trời cho mà có lẽ trong suốt cuộc đời cầm máy anh sẽ không có lần thứ hai bấm máy, đó là cảnh về một chiếc thuyền lƣới vó ngoài xa trên biển sớm mờ sƣơng. Nhƣng khi chiếc thuyền lƣới vó đẹp nhƣ mơ ấy vào gần bờ, anh kinh ngạc khi chứng kiến cảnh bƣớc xuống từ chiếc thuyền ấy là một ngƣời đàn ông và ngƣời đàn bà với dáng hình nghèo khổ, cơ cực, cảnh ngƣời chồng đánh vợ một cách dã man, cảnh ngƣời vợ không khóc lóc, cầu xin, không chống lại, cũng không tìm cách chạy trốn. Thằng con trai vì muốn bảo vệ mẹ nên đã đánh lại cha mình. Chứng kiến cảnh tƣợng đó, lúc đầu Phùng ngạc nhiên, đứng sững.
Nhƣng với tinh thần, phẩm chất của ngƣời lính, anh không chấp nhận đƣợc cảnh tƣợng nên anh đã quẳng máy ảnh xuống đất chạy tới can ngăn. Tại tòa án huyện, Phùng đã đƣợc nghe câu chuyện về cuộc đời của ngƣời đàn bà hàng chài. Anh rất ngạc nhiên, không hiểu sao ngƣời đàn bà ấy lại từ chối sự giúp đỡ của mình và Đẩu. Nhƣng, sau khi nghe đƣợc lý do mà ngƣời đàn bà đƣa ra thì “bây giờ tôi đã 16 hiểu,- bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát”.
Từ cuộc trò chuyện này, nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu đã có cái nhìn mới về con ngƣời và cuộc đời. Tấm ảnh thuyền và biển mà nghệ sĩ Phùng chụp ngày hôm đó cho đến mãi sau này “vẫn đƣợc treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Tuy nhiên, mỗi lần tôi đứng ngắm tấm ảnh đen trắng ấy, bao giờ tôi cũng thấy “hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sƣơng mai” và “nếu nhìn lâu hơn”, bao giờ tôi cũng thấy ngƣời đàn bà nghèo khổ, lam lũ ấy đang bƣớc ra khỏi tấm ảnh rồi hòa lẫn trong đám đông. Truyện ngắn Phiên chợ Giát (1988), là câu chuyện kể về lão Khúng trong khoảng thời gian đi chợ bán bò, Trong truyện, tác giả miêu tả tâm trạng của lão Khúng từ khi ông thức dạy rồi đi trên đƣờng, khoảng thời gian ấy là 5 tiếng đồng hồ.
Song ta thấy, cuộc hành trình này không dừng lại ở đó nó cứ dài thêm, thêm mãi những hồi tƣởng của lão. Trong dòng hồi tƣởng ấy là những đau khổ, những nhọc nhằn và rất nhiều nƣớc mắt. Cỏ lau (truyện vừa, 1989), câu chuyện đƣợc kể trong Cỏ lau là câu chuyện của Lực, nhân vật xƣng Tôi, một cán bộ cấp trung đoàn, ngay sau khi chiến tranh kết thúc đã trở lại khu vực thành cổ Quảng Trị với nhiệm vụ thu thập hài cốt các đồng đội đã hy sinh. Ở những truyện ngắn này, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã có những hƣớng tiếp cận mới để khám phá hiện thực của cuộc sống.
Ngòi bút của ông đã chuyển hƣớng vào những vấn đề thế sự trong cuộc sống hàng ngày, đó là những vấn đề nhân sinh, đạo đức. Bên cạnh đó, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 còn là sự chiêm nghiệm, suy tƣ về số phận của con ngƣời, những thay đổi của đời ngƣời do chiến tranh mang lại. Với tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Nguyễn Minh Châu đã khái quát đời văn của mình thành hai giai đoạn: minh họa và đoạn tuyệt với lối minh họa. Chính vì thế, nhà văn đã tìm cho mình một hƣớng đi riêng đến với những giá trị vĩnh hằng.
Để làm đƣợc điều này ông không ngừng khám phá, đào sâu vào mọi ngóc ngách con ngƣời. Khuynh hƣớng đối thoại trong văn học sau 1975 và tƣ tƣởng đổi mới quyết liệt trong sáng tác Nguyễn Minh Châu. Đối thoại – một trong những khuynh hướng tiếp cận cuộc sống của văn học 1. Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) thì đối thoại có nghĩa là: “1.
Nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều ngƣời với nhau. Cuộc đối thoại. Ngƣời đối thoại. Đoạn đối thoại trong vở kịch.
Bàn bạc, thƣơng lƣợng trực tiếp giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Chủ trƣơng không đối đầu mà đối thoại”. Theo quan điểm của F.de Saussure, ông cho rằng những tính đối thoại thuộc lĩnh vực lời nói; tuy hình thức giao tiếp vẫn bao gồm hai chủ thể là ngƣời nói và ngƣời nghe. Nhƣng ta thấy, ngƣời nghe ở đây chỉ là ngƣời tiếp nhận đối thoại một cách thụ động chứ không phải là ngƣời tham gia đối thoại.
Trong khi đó, lí thuyết hoạt động giao tiếp thì lại cho rằng một phát ngôn bao giờ cũng mang tính đối thoại nhƣng thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau, do đó sẽ dẫn đến sự luân phiên đổi vai trong giao tiếp. Khi tìm hiểu một cuộc đối thoại, bao giờ ta cũng thấy có ba vận động chủ yếu làm biến đổi lẫn nhau. Bakhtin: “Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những ngƣời sử dụng ngôn ngữ. Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống ngôn ngữ.
Toàn bộ cuộc sống của ngôn ngữ trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật…) đều thấm nhuần những quan hệ đối thoại” [27; 172] Tác giả M. Bakhtin cho rằng đối thoại không chỉ diễn ra trực tiếp mà còn diễn ra ở dạng đối thoại ngầm. Để nhận thức đƣợc điều này phải thông qua hai chiều đối thoại: Đối thoại trong “cái tôi” là đối thoại ngầm trong tƣ duy của ngƣời tiếp nhận để xác lập nhận thức của mình; Còn đối thoại “tôi” và “ngƣời khác” là đối thoại giữa những luồng nhận thức, điểm nhìn…của các chủ thể tham gia giao tiếp khác nhau. Nhƣ vậy, việc giao tiếp đối thoại không chỉ đơn 18 thuần nhằm mục đích thông tin.
Đồng thời, nó còn tác động đến ngƣời đối thoại về quan điểm, tình cảm và hành động. Từ đó, Bakhtin xác định đối thoại là bản chất của ý thức, tƣ tƣởng con ngƣời “Tƣ tƣởng không sống trong ý thức của cá nhân đã bị tách biệt của con ngƣời (…). Tƣ tƣởng bắt đầu sống tức là đƣợc hình thành, đƣợc phát triển, nó tìm ra và đổi mới cách biểu hiện bằng lời, sản sinh ra những tƣ tƣởng mới bằng cách tham gia vào các quan hệ đối thoại quan trọng với các tƣ tƣởng khác của ngƣời khác. Ý nghĩ của con ngƣời chỉ trở thành ý nghĩ đích thực, tức là trở thành tƣ tƣởng trong điều kiện tiếp xúc sinh động với ý nghĩ ngƣời khác, đƣợc thể hiện thành tiếng nói khác, tức là với một ý thức khác đƣợc diễn đạt thành ngôn từ” [27; 80] Trong xã hội, con ngƣời trao đổi với nhau bằng giao tiếp nên giao tiếp, đối thoại với nhau cũng là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội.