CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Giới thuyết về các khái niệm: dân gian, văn hóa dân gian, chất dân gian 1. Khái niệm dân gian Cuốn Từ điển Tiếng Việt định nghĩa từ dân gian khá ngắn ngọn như sau “Dân gian: trong dân, chung cả dân trong xã hội” [87, tr. Tuy nhiên, nếu mở rộng tìm hiểu thì dân gian, khi là danh từ, nhằm nói về cộng đồng những người dân thường, là chủ nhân sáng tạo hoặc sở hữu những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần nào đó.
Ví dụ, tục ngữ có câu: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” là một kinh nghiệm của dân gian về thời tiết, khí hậu. Trải qua thực tế cuộc sống, quan sát mà nhân dân lao động đã đúc rút ra kinh nghiệm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống sinh hoạt, lao động vật chất. Mặc dù chỉ là những đúc kết từ chính sự quan sát, trải nghiệm thực tế nhưng kiến thức đó đã được chứng minh là đúng đắn, hiệu quả, nhất là trong giai đoạn chưa có sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại như ngày nay. Dân gian, khi là tính từ (hoặc hình dung từ) nhằm chỉ những đặc điểm, những đối tượng vật chất hoặc tinh thần thuộc về cộng đồng người dân thường, những người dân lao động để phân biệt với đặc điểm, đối tượng loại đó thuộc các tầng lớp trên, hoặc hệ thống quan phương của các tầng lớp nắm quyền, chính quyền, nhà nước.
Chủ thể của các sáng tạo dân gian chính là quần chúng nhân dân lao động. Các sáng tạo dân gian đó thường là hoạt động tự do, tự phát, không chuyên, không thành văn và được lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng. Ví dụ, khi ta nói đến kiến trúc dân gian, tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán dân gian, triết lý dân gian… tất cả đều là những đặc điểm, đối tượng của dân gian để khu biệt với các đặc điểm, tính chất, đối tượng thuộc về văn minh, văn hóa bác học như sau: kiến trúc dân gian/kiến trúc bác học; âm nhạc dân gian/âm nhạc cung đình, âm nhạc bác học; văn học dân gian/văn học bác học… Như vậy, khi nói đến khái niệm dân gian ta có thể hiểu ở hai phạm trù cơ bản khi là danh từ và khi là tính từ. Đây là một khái niệm tương đối rộng và được sử dụng rộng rãi trong đời sống.
Tất cả những gì thuộc về khái niệm dân gian mà ta tìm hiểu ở trên đều có sự hiển diện trong các hoạt động đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân lao động. Khái niệm văn hóa dân gian 14 Văn hóa dân gian là một thành tố thuộc phạm trù của dân gian. Có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa dân gian, trong phạm vi đề tài tìm hiểu, người viết sẽ trình bày một số cách hiểu phổ biến như sau: Trong tiếng Anh, thuật ngữ Folklore (được ghép từ 2 thành tố Folk: dân chúng, nhân dân, đại chúng; lore: tri thức, trí khôn) được W J.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 đăng trong một bài báo nhỏ trên tạp chí “The Atheneum” - Luân Đôn để chỉ "phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ. của người thời trước”.Thom thì Folklore dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn của các thời trước Từ điển bách khoa toàn thư Anh, 1964: Folklore là tên gọi chung, thống nhất của những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến đạo lí, nghi lễ, mê tín dị đoan của dân gian.
Những câu chuyện cổ, những bài tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này, và nhờ vào việc mở rộng ý nghĩa của khái niệm mà ngày nay, nó bao gồm cả những yếu tố của văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến. Định nghĩa Folklore của UNESCO: Folklore (trong nghĩa rộng văn hóa truyền thống được lưu truyền, phổ biến rộng của nhân dân) là sáng tác để định hướng cho một nhóm người nào đó và được hình thành theo truyền thống của các nhóm người, các thành viên, phản ánh sự chờ đợi, niềm hy vọng của cộng đồng trong những biểu hiện tương ứng với nó về nhận thức xã hội và văn hóa. “Các quy tắc, giá trị của Folklore được truyền đạt qua truyền miệng, mô phỏng hoặc bằng những con đường khác. Hình thức của nó là ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, trò chơi, thần thoại, phong tục, nghi lễ, nghề thủ công, kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác” [52, tr.
Ở Việt Nam chúng ta, khái niệm dân gian từ lâu đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến. Cũng như cội nguồn hàm chứa trong Folklore đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập đến, những gì thuộc về văn hóa dân gian bao gồm cả văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc… đến các giá trị vật chất khác. GS Trần Quốc Vượng – một học giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, trong đó nổi bật là nhận định của ông về Folklore đại ý như sau: Không hiểu nổi tính chất Folklorique làm sao mà hiểu nổi tính dân tộc Việt Nam… Cái nói lên bản sắc dân tộc là văn hóa dân gian. Bảng giá trị dân tộc về căn bản là bảng giá trị dân gian.
Yêu nước gắn liền với thương dân là một hằng số, một nét trội vượt của đạo đức Việt Nam. Nói Folklore Việt 15 Nam là nói tổng thể mọi sáng tạo, mọi thành tựu văn hóa dân gian ở mọi nơi trong mọi thời đại, của mọi thành phần dân tộc đang hiện tồn trên lãnh thổ Việt Nam. Nó có thể là một ngôi đền, một cái đình mà cũng có thể là một huyền thoại hay một câu chuyện thần kì. Nó có thể là một cái lư hương gốm sứ cổ, một cỗ kiệu sơn son thếp vàng ngày xưa mà cũng có thể là một câu tục ngữ cổ, một khúc dân ca… Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, từ đời sống làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống vui chơi (thể thao dân gian, võ, vật, đánh cầu, hát phết), hát hò (hát đò đưa, hò giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo), đến đời sống tâm linh (giỗ, tết, lễ hội) [52, tr.
Trong một bài nghiên cứu khi đề cập đến những hằng số của văn hóa dân gian Việt Nam, GS Trần Quốc Vượng cũng đã khẳng định “thần thái văn hóa dân gian, văn hóa Việt Nam nói chung dựa trên ba hằng số kinh tế xã hội là: nghề nông trồng lúa nước – người tiểu nông – làng xóm, trên nền tảng ấy đã nảy sinh và đi vào cả vĩnh hằng lịch sử di sản văn hóa folklore Việt Nam” [3, tr. Theo nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên thì Folklore (phônclo) thuật ngữ phiên âm từ tiếng Anh (Folklore = sự hiểu biết của nhân dân, trí tuệ của nhân dân) thường được dùng song song với thuật ngữ “văn học dân gian”. Văn hóa dân gian bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần được nhân dân lao động sáng tạo, sử dụng, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Không một vùng đất nào, dân tộc nào, đất nước nào lại thiếu vắng văn hóa dân gian bởi văn hóa dân gian cũng chính là biểu hiện của văn hóa dân tộc [52, tr.
Năm 2013 tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được Tổ Chức Văn Hóa và Giáo Dục Quốc Tế (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Được biết, đây là tín ngưỡng thờ cúng đầu tiên của nhân loại được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể. Từ sự kiện này ta có dịp nhìn nhận lại hình thức thờ cúng các vua Hùng như một giá trị và biểu tượng của văn hóa dân gian mà cụ thể ở đây là tín ngưỡng dân gian. Xét trong tương quan văn hóa thì giá trị và biểu tượng cũng là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau.
Khi giá trị được kết tinh và làm nên cái cốt lõi sẽ tạo thành tính biểu tượng thẩm mỹ, trong mỗi biểu tượng ta sẽ tìm thấy giá trị hay hệ thống các giá trị văn hóa. Và như thế, trong biểu tượng Quốc tổ các Vua Hùng ta thấy các giá trị và tâm thức về cội nguồn và cố kết cộng đồng dân tộc, một trong những nét đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam. Hệ giá trị của văn hóa dân tộc, trước hết tiềm ẩn trong văn hóa dân gian. Các biểu tượng của văn hóa chủ yếu gắn với văn hóa dân gian.
Hệ biểu tượng này hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài và quy định những hành vi ứng xử của cộng đồng. Quốc tổ các Vua Hùng - biểu tượng về cội 16 nguồn, về tâm thức "uống nước nhớ nguồn", mà căn cỗi của nó là tục thờ cúng tổ tiên ở mỗi gia tộc, dòng họ. Văn hóa dân gian với hệ giá trị và biểu tượng của nó đã làm nên cái gọi là tâm thức dân gian, tâm hồn dân tộc. Những cái đó, tới lượt nó quy định các hành vi, tình cảm, hoài vọng của con người.
Như vậy, có thể thấy rằng về thuật ngữ Folklore có nhiều cách luận giải khác nhau nhưng tựa chung lại thì có thể nói Folklore đều được các học giả, các nhà nghiên cứu nhìn nhận là tổng hợp các giá trị của văn hóa dân gian bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần, tồn tại từ xa xưa và tiếp tục được lưu truyền phát triển đến hôm nay và mai sau. Đặc biệt, các học giả cũng đã nhìn nhận Folklore như một cội nguồn của giá trị và sáng tạo cho con nguời. Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển nhưng văn hóa dân gian vẫn đóng vai trò quan trọng, không thể thay thế và tiếp tục được nhân dân lao động tin tưởng, sử dụng, sáng tạo và phát triển trong cuộc sống. Khái niệm chất dân gian Như ở trên mục 1.1 ta đã tìm hiểu qua về khái niệm dân gian và trước khi tìm hiểu về chất dân gian, ta sẽ tìm hiểu khái niệm “chất” là gì để từ đó lý giải về khái niệm chất dân gian mà đề tài nghiên cứu.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Chất: bản thể của sự vật; chỉ chung những thuộc tính cơ bản của sự vật, để phân biệt sự vật này với sự vật khác, tạo nên giá trị của từng sự vật” [87, tr.