mở đầu cho năm cuốn tiểu thuyết tiếp theo, có thể còn đọc được trong khoảng mươi năm nữa. Và lần cuối là năm 1990 với một chuỗi truyện ngắn, khoảng sáu, bảy chục truyện, viết trong 10 năm, và tuổi thọ của nó xem chừng cũng còn dài” [87]. Khuynh hướng sáng tác của nhà văn Nguyễn Khải chuyển dịch từ chính luận sang triết luận. Giai đoạn đầu nó mới dừng lại ở những vấn đề cấp thiết của lợi ích cách mạng, cộng đồng mang đậm tinh thần giáo huấn theo lập trường quan điểm chính trị - đạo đức cách mạng.
Nhà văn không cảm thấy tù túng bó buộc giữa yêu cầu của cách mạng với văn học, yêu cầu của thời đại với nhà văn. Nhà văn luôn tìm được khoảng trống rộng rãi đủ để ông múa bút. Đối với quan niệm chung chi phối sáng tác văn học sau năm 1945 là nhà văn phải gắn bó với đời sống những người bình thường thì ông hăng hái đi khắp vùng ven biển Nam Định và tái hiện những bức tranh cuộc sống của con người nơi đây chân thật và tỉ mỉ đến bất ngờ. Nguyễn Khải thú thật đã từng lãng quên những con người và những việc bình thường:“(…) chuyện hằng ngày, nhỏ nhặt và tầm thường có gì đáng để phải viết.
Chả là tôi rất thích viết những hoàn cảnh gay gắt, đơn biệt, những tính cách hoặc u tối hoặc chói sáng. Các truyện trước đây của Nguyễn Khải dù rất uyển chuyển, sinh động nhưng vẫn nổi lên một sắc thái nhất định. Nguyễn Khải, "đi thực tế đấy mà thực chất là để tìm mình, để phát ngôn cho chính mình [. Vì sự lựa chọn của họ rút cục đều do ông mách nước cả".
Các sáng tác của Nguyễn Khải đầy ắp cảm hứng chính luận, chuyên đề cập các vấn đề thời sự, chính trị của đất nước và thường lấy tiêu chí chính trị, đạo đức cách mạng để bàn luận, đánh giá sự kiện, con người. Đến giai đoạn sau, nhà văn đề cập đến vấn đề thời sự, chính trị nhưng nó gắn với cá nhân, hướng vào những cuộc đối thoại tư tưởng để giải quyết những vấn đề vĩnh cửu của đời sống con người. “Nghệ thuật trong thời đại khoa học đặc biệt quan tâm đến triết học, nó sáp gần và đôi khi hòa lẫn vào triết học” (A. Những nhà văn lớn thường gặp những triết gia lớn ở chỗ trong tác phẩm của họ con người được đặt trong quan hệ với cái “tuyệt đối”.
Con người thường được đặt trong quan hệ với những vấn đề chính trị-xã hội thời sự. Tác phẩm văn học sẽ có chiều sâu hơn nếu như những vấn đề thời sự chỉ là điểm xuất phát. “Chúng ta không đi đến chân lí, chúng ta chỉ va chạm vào chân lí”(Evarist Gallois). Từ những vấn đề thời sự, trong cảm hứng triết luận, nhà văn có cơ chạm được vào “cái tuyệt đối”.
Quan niệm về “cái tuyệt đối” cũng đơn giản thôi, đó là những khát vọng nhân bản và vĩnh hằng của con người về chân, thiện, mĩ. Ông sớm nhận ra phải nhanh chóng từ giã thời lãng mạn, đơn giản, dễ dãi để viết những tác phẩm mang quan điểm cá nhân. Ngày nay đến với truyện của ông, ta thấy cách nhìn không còn rõ rệt phân ra quan điểm đúng sai mà là những xót xa đau đớn vì sự ngó lơ trước những khuyết tật của con người. Đó còn là những nỗi đau vô cớ, những bất hạnh mơ hồ, những đắng cay chua xót không đâu, những nỗi nhục, những mặc cảm không có duyên do, không tài nào ai hiểu nổi vẫn thường đầy rẫy trong cuộc đời mỗi người.
Bước ngoặt khiến ông tìm về đề tài những con người tẻ nhạt, nhỏ mọn, tầm thường trong cuộc sống hàng ngày là “…vào năm tôi đã 60 tuổi. Là khi tôi ngộ ra cái dòng chảy tự nhiên của một đời người từ xưa cho tới nay, thời chiến thì đi lính; thời bình thì đi cày, đi buôn với những lo toan, buồn vui của mỗi ngày. Những danh nhân, anh hùng của mọi thời đều từ cái đám đông nhờ nhờ ấy bước vào vùng sáng của lịch sử một khi thời thế thay đổi. Tôi đã dành một nửa đời viết chỉ để quan tâm tới những số phận khác thường, những tính cách khác thường, thì thời gian còn lại tôi sẽ chỉ dành cho những con người vô danh, những con người của đám đông với những số phận rất tầm thường.
Sự thay đổi trong quan niệm về cuộc sống, về con người đã dẫn đến những đổi thay trong bút pháp của nhà văn. Truyện Nguyễn Khải từ hướng ngoại chuyển dần sang hướng nội, giọng điệu tâm tình sẻ chia tương ứng với nội dung nhân bản kia dần lấn át giọng tranh biện, thuyết lí. Đúng như nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn từng nhận định:"Ngày nay đến với truyện của ông, người ta được đến với một thế giới đa dạng hơn, nhiều sắc thái hơn, cái anh hùng xen với cái bình thường, cái đáng căm giận đáng phỉ nhổ không thiếu, nhưng còn bao nhiêu cái đáng cảm động, đáng để tin yêu, nó góp phần làm nên một cuộc sống thú vị có cả tiếng cười lẫn nước mắt". Dường như trong văn chương thì nỗi đau dễ còn lại với đời sau hơn là niềm hân hoan và những câu chúc tụng.
Nhìn chung ta có thể khái quát hai giai đoạn sáng tác lớn của Nguyễn Khải. Trước 1978, tác giả có cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, nghiêm ngặt, luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, ta – địch, tốt – xấu nhằm khẳng định xu thế vận động (từ bóng tối ra ánh sáng) của cuộc sống mới, con người mới. Ngòi bút văn xuôi có khuynh hướng chính luận với sức mạnh của lí trí tỉnh táo. Sau 1978, cái nhìn của ông trở nên đầy trăn trở, chiêm nghiệm, cảm nhận hiện thực xô bồ, hối hả, đầy đổi thay và đặc biệt là chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội.
Tác giả nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ nhằm khẳng định, ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Lấy việc khám phá những con người trong cuộc sống đời thường làm trung tâm. Các tác phẩm thể hiện cảm hứng triết luận với giọng văn đôn hậu, trầm lắng, nhiều suy nghiệm. Từ sau Xung đột, những tác phẩm như Mùa lạc, Đứa con nuôi, Chuyện người tổ trưởng máy kéo đều nhất quán trong cảm hứng lãng mạn.
Những kiểu nhân vật như chị Đào, Thoa, Thi. đã khá quen thuộc trong văn học của ta. Đó là những con người rất bình thường, nhỏ bé bị tơi bời trong sóng gió cuộc đời. Nhưng họ vẫn đầy lạc quan với sức trỗi dậy bền bỉ, khả năng tự tái sinh mình đến kì lạ.
Trong những năm đầu tiên được hưởng thành quả của chế độ mới (sau 1945), nhà văn đã không tránh khỏi cái cảm xúc quá hào hứng và thán phục đối với mọi việc và mọi người. Ông đã hăm hở đẩy mọi thứ lên đến cực đoan rồi đi đến những tổng kết mang nặng tính lí thuyết. Tất nhiên cứ say sưa ca ngợi cái này thì đương nhiên cũng hăm hở phê phán chế giễu cái kia. Nguyễn Khải từng thừa nhận:“Có một thời mà thời ấy kéo hơi quá dài, những ba chục năm, chúng ta chỉ tôn trọng có ý chí có nghị lực có chính trị tư tưởng.
Chỉ cần so sánh một chút cảm hứng khái quát đời sống khi nhà văn viết Mùa lạc với những thiên truyện ông viết những năm cuối 80 đến nay ta sẽ thấy bao khác biệt. Cái nông nổi bồng bột say sưa của tuổi trẻ, và cái chiêm nghiệm thâm trầm sâu sắc của tuổi già. Cái cao giọng lớn tiếng khẳng định, khái quát, tổng kết quy luật cuộc sống nhưng còn hồn nhiên, chân chất; và cái ngập ngừng, ngẫm nghĩ, lo âu vì sợ sẽ tiếp tục sai lầm lại tiến gần đến quy luật cuộc đời. Và khi tuân theo quy luật cuộc đời, nhà văn cũng đã chạm đến cái hồn của văn chương vốn rộng lượng với những lầm lạc, vấp ngã của con người.
Sự thay đổi trong quan niệm về cuộc sống, về con người đã dẫn đến những đổi thay trong bút pháp của nhà văn. Truyện Nguyễn Khải từ hướng ngoại chuyển dần sang hướng nội, giọng điệu tâm tình sẻ chia tương ứng với nội dung nhân bản kia dần lấn át giọng tranh biện, thuyết lí. Vì thế mà, Nguyễn Khải đã tự nguyện quay trở lại, soi chiếu lại cái thế giới cũ để dũng cảm nhìn nhận chính mình như một lẽ tất nhiên hơn ai hết. Và ông vẫn hăm hở với những tác phẩm được viết tiếp hay viết lại (Cái thời lãng mạn nhìn lại Tầm nhìn xa; Cha và con và… nhìn lại Xung đột; Người trở về, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười…).
Có mấy ai lại mang một tâm thế hăm hở đến vậy khi nhìn nhận, mổ xẻ, tự giễu chính những đứa con tinh thần của mình. Phải chăng cái khao khát tìm cho ra chân tướng tận cùng sự thật đã cao hơn tất cả, cao hơn nỗi đau cắt lìa chính “những đứa con mình”.2 Hành trình nhận thức quan cuộc tự phát hiện trở lại Nghề cầm bút với Nguyễn Khải rất nghiêm trang và khó nhọc như nghề làm người. Nó cũng trải qua những giai đoạn phát triển, tự nhìn lại mình, tự ý thức rồi thức tỉnh như chính ông trên hành trình làm người. Ban đầu ông viết văn như để giải oan, để đáp lại cái quá khứ tủi nhục, bị coi thường, bị hắt hủi của mình.
Ông viết văn để đền ơn cho gia đình lớn cách mạng. Ông viết văn bằng cái ham muốn bộc lộ tài năng, ham muốn góp mặt trong đời sống văn học. Nhưng cùng với thời gian và những trải nghiệm ngọt bùi cay đắng, ông nhận ra thái độ thiên lệch “độc quyền lẽ phải” của chính mình. Bám sát đời sống, không rời cái hôm nay, con người năng động và thông minh, luôn khát khao tìm tòi này đã sớm nhận ra thiếu sót thuở nào trong những quan niệm một thời của mình.
Nhìn nhận lại quá khứ, nói thêm về những vấn đề mà mình đã từng nói thuở nào giờ đây bỗng trở thành một nguyện vọng thôi thúc trong con người làm nghề viết lách này. Ông đã tự hòa giải với chính mình bằng lòng khoan hòa, đồng điệu. Và chính tấm lòng tự nguyện hòa giải ấy đã mở ra cho ông một con đường thênh thang trong sáng tạo văn chương.