CHƯƠNG 1: LÝ VĂN SÂM – CUỘC ĐỜI, VĂN NGHIỆP VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT 1. Quê hương và thời niên thiếu Nhà văn Lý Văn Sâm sinh ngày 17 tháng 2 năm 1921 tại một làng nhỏ ở quê ngoại thuộc vùng Tân Thuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà (cũ), nay là huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương. Đây chính là “quê hương rừng thẳm sông dài” theo cách gọi của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ. Vùng này là miệt rừng núi, hồi ấy hãy còn hoang vu.
Vì thế, không ít lần, Lý Văn Sâm nói “tôi sinh ở trong rừng” [46, tr. Quê nội của ông, làng Bình Long, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Biên Hoà (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) cũng là một làng nằm giữa vùng rừng núi. Sau này, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, miền này trở thành một phần của chiến khu Đ oai hùng. Theo Hoàng Văn Bổn – nhà văn đồng hương của Lý Văn Sâm – thì “Bình Long là một cái làng nghèo, quê mùa, nằm dọc theo sông Đồng Nai.
Từ trên cao nhìn xuống, làng Bình Long chúng tôi như một cái bàu nhỏ lọt thỏm giữa rừng đại ngàn miền Đông Nam bộ, có con sông Đồng Nai như sợi chỉ nhỏ vắt qua, bò, trườn từ Đồng Nai thượng, Lang Biang qua Cát Tiên, thác Trị An, ngã ba Sông Bé, xuống ngã ba Bình Ninh – cù lao Mỹ Quới, xuống cù lao Thạnh Hội, Bửu Long, cù lao Phố và tuột ra biển cả” [10, tr.59 - 60] Bình Long cũng như cả vùng Tân Uyên trước năm 1945 rất nghèo, thế nhưng chính vùng đất nghèo khổ ấy lại là nơi sinh ra những con người tài hoa trong một thời kỳ sôi động của đất nước như Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Vũ Anh Khanh, Hoàng Văn Bổn, … Lý Văn Sâm là con đầu của ông bà Lý Văn Huề nên được gọi là cậu Hai (theo cách xưng hô của người miền Nam). Cha của ông làm nghề kiểm lâm nên cả quãng đời thơ ấu của Lý Văn Sâm trải qua hầu hết ở vùng rừng rậm. Những cảnh thiên nhiên của quê hương như thế đã in đậm dấu ấn trong tâm hồn ông từ thời thơ bé. Trong các hồi ức Thâm u và cao cả, Mã Đà sơn cước, Lý Văn Sâm đã nhiều lần nhắc đến những kỷ niệm xúc động về quê hương thuở ấu thơ của mình “Tôi lớn lên ở trong rừng và mãi tới năm bảy tuổi mới được ra học ở trường tỉnh.
Trọn bảy năm, tâm hồn thơ dại của tôi đã thấm sâu bóng núi, hình cây, tiếng chim, lời suối.206 – 207] 13 Năm bảy tuổi, ông được cha đưa xuống thị trấn Tân Uyên để học sơ học. Khung cảnh thơ mộng với những cánh cò trắng và thiên nhiên tươi đẹp, hoang dã nơi đây đã thấm đẫm tâm hồn lãng mạn của cậu học trò nhỏ “Hàng ngày tôi vẫn thường ra đi một lượt với lũ cò. Tôi cắp những cặp sách mỏng kèm theo một mo cơm nhão và đếm từng bước nhỏ trên con đường trải đá son, theo vòng bán nguyệt của giòng nước lụt, giống như một nét viết chì đỏ và một nét viết chì xanh vẽ song song trên những trang giấy trắng thành hình một cái móng đóng trên trời … Trưa tôi ở lại và ăn cơm dưới gốc nhãn trong sân trường. Chiều, tôi về một lượt với đàn cò.
Không biết buổi sáng cò bay đi đâu mà chiều cò lại về đúng giờ đúng khắc quá”.408] Tốt nghiệp tiểu học ở quê, Lý Văn Sâm lần lượt học qua các trường Trung học Pétrus Ký ở Sài Gòn, Hồ Đắc Hàm, Phú Xuân ở Huế. Cũng tại Huế, ông đã được gặp nhà cách mạng Phan Bội Châu, và được học với những người thầy nổi tiếng như Hoài Thanh, Thanh Tịnh. Thời kì trưởng thành và tham gia kháng chiến Nhiều năm trong tuổi thanh niên, Lý Văn Sâm đã sống gắn bó với quê hương rừng núi nhất là khi ông thay cha làm chủ lò than giữa vùng rừng Mã Đà – Trị An – Đồng Nai nơi mà trong tạp văn Mã Đà sơn cước, Lý Văn Sâm từng viết “Mã Đà vốn là quê hương lâu đời của những loài cây cổ thụ có tên và không tên, của những vạt rừng già mênh mông không vết chân người …” [46, tr. Tình yêu đối với quê hương và sự gắn bó với rừng núi đã giúp Lý Văn Sâm viết nên những trang văn đặc sắc về cảnh núi non hoang sơ, kỳ vĩ và cuộc sống của con người mộc mạc, chất phác.
Khoảng năm 1940, ông xây dựng gia đình cùng Tchô Phay, con gái một vị hương cả người dân tộc Châu Ro ở huyện Định Quán – Đồng Nai nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, ông và Tchô Phay thất lạc tin nhau. Mối tình này có ảnh hưởng rất lớn đến sáng tác của Lý Văn Sâm nhất là những trang viết về người dân tộc thiểu số. Khát vọng tự do, công bằng trong một xã hội nô lệ đã đưa Lý Văn Sâm đến với Cách mạng một cách tự nhiên. Trong những ngày tháng Tám sục sôi năm 1945, nhà văn cùng nhân dân vùng lên cướp chính quyền rồi trở thành cán bộ tuyên truyền của tỉnh Biên Hoà.
Năm 1946, khi Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ, Lý Văn Sâm bị bắt, quản thúc tại xã Bình Trước (nay là thành phố Biên Hoà). Sau khi ra tù, bị mất liên lạc với tổ chức, ông lên Sài 14 Gòn làm báo, viết văn và tham gia các hoạt động điệp báo trong lòng địch. Đây cũng là thời gian (giai đoạn 1947 – 1950) sáng tác sung sức nhất của Lý Văn Sâm. Vì những tác phẩm mang yếu tố chống chế độ, ông lại bị chính quyền thực dân bắt, giam tại khám lớn Sài Gòn một thời gian ngắn.
Năm 1950, trước nguy cơ bị lộ, ông được rút về chiến khu. Năm 1954, sau hiệp định Giơnevơ, Lý Văn Sâm ở lại hoạt động báo chí và văn nghệ công khai tại Sài Gòn. Tháng 11 năm 1955, Lý Văn Sâm viết một truyện ngắn có tên là Chuông rung trên tháp đổ đăng trên tập san Xuân dân tộc với bút danh Bách Thảo Sương. Tác phẩm đả kích trực tiếp chính quyền Ngô Đình Diệm.
Vì thế, ông bị mật vụ chính quyền Sài Gòn bắt giam tại bốt Catinat và Trung tâm huấn chính Biên Hoà, tức nhà lao Tân Hiệp. Tháng 12 Năm 1956, ông tham gia lãnh đạo tù chính trị nổi dậy phá ngục Tân Hiệp, trở về với kháng chiến. Ông trở thành Chánh văn phòng Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang tỉnh Thủ Dầu Một (1956 – 1958). Những năm 1959 đến 1961, ông công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, với các chức danh: chính trị viên đoàn Văn công Giải phóng, thư ký toà soạn báo Văn nghệ Giải phóng, Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật (Bộ Văn hoá Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam).
Năm 1962, Hội Văn nghệ giải phóng được thành lập, Lý Văn Sâm là tổng thư ký đầu tiên của Hội. Thời kì đất nước hoà bình, thống nhất và những năm cuối đời Sau 1975, Lý Văn Sâm là Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam, Phó tổng thư ký Hội liên hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khoá VI và rất nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai. Tuy bận rộn với công việc của những người “tiếp quản” nhưng có dịp là Lý Văn Sâm lại tìm về những chốn xưa, thăm bạn bè, đồng đội cũ. Những chuyến “trở về” ấy thôi thúc Lý Văn Sâm đi đến một suy nghĩ “Tất cả những gì ta có được hôm nay đều phải trả bằng giá hàng vạn đau thương mất mát.
Hãy trang trọng viết bằng chữ hoa đẹp nhất lên trang đầu quyển sách đời ta hai tiếng: BIẾT ƠN” [43, tr. Những năm cuối đời, ông dự định về quê, cất một căn nhà nhỏ, ở với bà con làng xóm. Đáng tiếc dự định chưa thành, ông đã đi ra “ngoài cõi sống”. Lý Văn Sâm mất năm 2000 tại thành phố Biên Hoà.
Cuộc đời và văn chương Lý Văn Sâm nằm gọn trên những nẻo đường kháng chiến của dân tộc. Ông gắn bó với nhân dân và thiết tha với quê hương, nơi ông thường gọi bằng 15 cái tên dân dã “quê nhau rún”. Với thiên chức người cầm bút, “Lý Văn Sâm đã khắc ghi chân thực bộ mặt của quê hương mình, … ca khúc khải hoàn cho những chiến thắng và hát bài tang lễ trước nỗi đau thương, mất mát của nhân dân” [47, tr.298] Ông là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một nhà hoạt động văn hoá sôi nổi, nhà văn giữ nhiều trọng trách văn nghệ trong nhiều giai đoạn cách mạng ở miền Nam. Chính vì những đóng góp ấy, giới phê bình văn học đô thị miền Nam đã đánh giá Lý Văn Sâm là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của dòng văn chương tranh đấu ở miền Nam thời kỳ 1945 – 1954.
Văn nghiệp Lý Văn Sâm là nhà văn khá quen thuộc không chỉ đối với bạn đọc Đồng Nai, quê hương ông mà còn đối với bạn đọc cả nước (nhất là giai đoạn 1945 – 1954). Ngoài tên thật Lý Văn Sâm, nhà văn còn sử dụng nhiều bút danh khác như: Văn Sâm, Huyền Sâm, Mộc Tử Lang, Ánh Minh, Bách Thảo Sương, Đào Lê Nhân…Năm 1942, Lý Văn Sâm lần đầu xuất hiện trên văn đàn với nhiều truyện đường rừng tiêu biểu đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy (93, Hàng Da, Hà Nội). Là một nhà văn trẻ, tài năng, ngay từ khi mới xuất hiện, Lý Văn Sâm đã viết khá nhiều và nhanh ở đủ mọi thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, kịch, tiểu thuyết… Thể tài sáng tác của ông cũng khá phong phú, từ thể tài đường rừng, phiêu lưu, dã sử, tâm lý xã hội, cho đến cả những sách trẻ, sách tuổi xanh … và trải qua nhiều thời kỳ sáng tác: 1. Các giai đoạn sáng tác Có thể nói, văn nghiệp của Lý Văn Sâm bắt đầu từ năm 1941, với truyện ngắn đầu tay Cây nhị sông Phố đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, một tờ báo khá danh giá trong đời sống văn học lúc bấy giờ ở Bắc Kỳ.
Đây cũng là dấu ấn trong sự nghiệp sáng tác của ông trước Cách mạng tháng Tám. Những năm kháng chiến chống Pháp, là những năm sáng tác sôi nổi và sung sức nhất của Lý Văn Sâm, nhất là giai đoạn nhà văn hoạt động ở Sài Gòn (1947 – 1950). Trong khoảng thời gian này, khá nhiều tác phẩm thuộc loại truyện ngắn và truyện vừa của nhà văn đã được xuất bản như: Thù nhà nợ nước (1947), Mười lăm năm hận sử (1947), Chiếc vòng ngọc thạch (1948), Sương gió biên thuỳ (1949), Ngoài mưa lạnh (1949), Sau dãy Trường Sơn (1949), Nắng bên kia làng (1949), Cỏ mọn hoa hèn (1949), Sóng vỗ bờ xa 16 (1949), Trong cơn loạn ly (1949) v.