CHƯƠNG 1: VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUANG LẬP 1. Văn xuôi nghệ thuật trong bối cảnh đổi mới của văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 1. Văn xuôi nghệ thuật Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Văn xuôi trong nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần, và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch, thơ, bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kí, tiểu phẩm chính luận” [19;293]. Trước thời cận đại, ở hầu khắp các nền văn học dân tộc, văn xuôi phát triển ở ngoại vi của nghệ thuật ngôn từ, tạo nên những hiện tượng ngôn từ pha trộn, nửa nghệ thuật (biên niên lịch sử, độc thoại triết học, hồi ký, thuyết pháp, tác phẩm tôn giáo…).
Sau này, thuật ngữ “văn xuôi” đã được dùng để chỉ hình thức văn xuôi hoàn toàn sử dụng ngôn từ làm chất liệu, nói cách khác, “văn xuôi” là một hình thức của nghệ thuật ngôn từ. Do đó, hoàn toàn có thể đồng nhất thuật ngữ “văn xuôi” với “văn xuôi nghệ thuật”. Và trong phạm vi luận văn này, chúng tôi thống nhất dùng thuật ngữ “văn xuôi” với ý nghĩa chỉ “văn xuôi nghệ thuật”. Văn xuôi bao gồm nhiều thể loại, theo Từ điển thuật ngữ văn học thì văn xuôi trong nghĩa hẹp bao gồm các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, kí.
Như vậy, khi nghiên cứu Văn xuôi nghệ thuật Nguyễn Quang Lập, chúng tôi đã tiếp cận khái niệm “văn xuôi” theo nghĩa hẹp, với các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn. Tiểu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian” [19;328]. Với dung lượng lớn và khả năng phản ánh sâu rộng về hiện thực cuộc sống, nhiều cuộc đời, nhiều số phận, nhiều tính cách, “tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ” [19;330]. Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, nội dung bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống.
Tuy nhiên, với dung lượng ngắn, “truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn 13 con người” [19;370]. Nói cách khác, truyện ngắn không có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống một cách sâu rộng như tiểu thuyết, mà ngược lại, nhà văn chỉ chọn lấy một lát cắt của cuộc sống để phân tích, lý giải, qua đó thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình. Ngoài ra, còn có tản văn, chiếm một phần rất lớn trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyễn Quang Lập mà chúng tôi tiếp cận và khảo sát. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật” [19;293].
Điều cốt yếu ở tản văn là khả năng “bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính của tác giả” [19;293]. Một bài tản văn có dung lượng tương đối khiêm tốn, cấu trúc tương đối phóng túng, ghi lại những rung cảm nhỏ nhoi nhất của tác giả. Đây là thể loại không kén độc giả, vì nó không đòi hỏi ở người tiếp nhận khả năng lý giải tình tiết như đọc truyện ngắn hay tiểu thuyết. Trong văn học hiện đại, tản văn gồm các thể kí, tùy bút, văn tiểu phẩm, văn chính luận, tạp văn, ngụ ngôn, chân dung văn học,… Với các tác phẩm Kí ức vụn, Chuyện đời vớ vẩn và Bạn văn của Nguyễn Quang Lập, có người gọi là tản văn, có người gọi là tạp văn.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tạp văn “Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội” [19;294]. Như vậy, nếu dựa vào nội dung khái niệm này thì khó có thể đóng khung các tập tác phẩm Kí ức vụn, Chuyện đời vớ vẩn và Bạn văn của Nguyễn Quang Lập vào thể tạp văn. Mặc dù hiện nay, tạp văn có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn, như một thể văn khá phóng túng, tự do về nội dung, phạm vi đề tài, kết cấu, ngôn ngữ,… chỉ cốt làm sao có thể bộc lộ, thể hiện được suy nghĩ, cảm xúc của tác giả. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi thống nhất chọn cách gọi các tác phẩm Kí ức vụn, Chuyện đời vớ vẩn và Bạn văn của Nguyễn Quang Lập là tản văn.
Văn xuôi nghệ thuật trong bối cảnh đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 Đại thắng mùa xuân năm 1975 đưa lịch sử dân tộc bước sang một trang mới, đồng thời đánh dấu một giai đoạn đổi mới toàn diện của văn học Việt Nam. Đi qua thời chiến, cuộc sống trở lại với những quy luật bình thường, con người cũng trở về với muôn mặt đời thường, phải đối diện với những vấn đề về thế sự, nhân sinh và cả những chuyện rất riêng 14 tư. Hiện thực đất nước đổi mới đã mở ra một bước ngoặt phát triển cho văn nghệ, văn học vì thế tất yếu cũng phải đổi mới theo tinh thần thời đại. Quá trình phát triển của văn học Việt Nam sau 1975 có thể chia ra làm hai chặng đường tiếp nối nhau: từ 1975 đến 1985 là chặng đường có tính chất chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến sang văn học thời hậu chiến; và từ 1986 trở đi, văn học chính thức bước vào giai đoạn đổi mới một cách toàn diện.
So với thơ ca, văn xuôi có nhiều khởi sắc đáng kể hơn. Đây là giai đoạn bừng nở và phát triển mạnh mẽ của văn xuôi. Ở chặng đường thứ nhất, ý thức đổi mới ở các nhà văn được bộc lộ thông qua việc thay đổi cách viết, cách tiếp cận hiện thực đời sống. Một loạt các sáng tác của Nguyễn Khải (Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người), Ma Văn Kháng (Mùa lá rụng trong vườn), Nguyễn Minh Châu (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê), Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển)… đã khơi dòng cho một hướng tiếp cận mới trong văn học, đặc biệt là sự mở ra các vấn đề thế sự, đời tư.
Tuy nhiên, phải đến chặng đường thứ hai mới thấy hết được bối cảnh và không khí đổi mới toàn diện của văn học sau 1975. Nghị quyết 5 về văn hóa văn nghệ (1987) của Bộ chính trị đã khẳng định: Tiếng nói của văn nghệ hiện thực Xã hội chủ nghĩa phải là tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của lương tri, của sự thật. Nhờ sự cổ vũ bởi làn gió dân chủ và cởi mở của Đảng, văn học cũng phát triển mạnh với xu hướng dân chủ hóa trong đời sống xã hội cũng như đời sống tinh thần của con người. Nhiều văn nghệ sĩ đã chân thành bày tỏ suy nghĩ và tâm huyết về văn nghệ.
Do đó, văn học trở thành phương tiện cũng như mảnh đất màu mỡ để các nhà văn phát biểu tư tưởng, quan niệm, chính kiến của mình về xã hội, cuộc sống và con người. Họ say sưa với hành trình khám phá cuộc sống và tìm kiếm một lối đi riêng cho mình. Nhiều cây bút đã lựa chọn các thể loại văn xuôi như một phương tiện đắc dụng trong việc thể nghiệm và khám phá hiện thực sâu rộng của cuộc sống. Có thể coi đây là “thời kì vàng” của văn xuôi Việt Nam.
Vì ít có bao giờ văn học Việt Nam lại có một đội ngũ nhà văn đông đảo và số lượng tác phẩm đồ sộ, đạt chất lượng như ở giai đoạn này. Bên cạnh những nhà văn đã trưởng thành từ giai đoạn trước đang say mê với những thể nghiệm mới ở những năm đầu sau 1975 như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng,… là sự xuất hiện của một loạt cây bút mới như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh, 15 Phạm Thị Hoài,… với những sắc thái khác nhau và những đổi mới mà họ đem đến đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo của văn xuôi Việt Nam. Văn xuôi nghệ thuật sau 1975 thuộc về “cái đương đại chưa hoàn thành” (M.Bakhatin), quá trình đổi mới diễn ra phong phú, đa dạng, nhiều chiều nhưng rất phức tạp. Đặc biệt vào thời điểm những năm 80 trở đi, đã có những bước chuyển mình rõ rệt với những thay đổi về tư duy nghệ thuật, cảm hứng và cách viết.
Nếu như trước 1975, văn xuôi chủ yếu mang khuynh hướng sử thi với cảm hứng ca ngợi, phù hợp với đối tượng cũng như hiện thực mà nó phản ánh, thì đến sau 1975, hiện thực cuộc sống mở ra một trang khác, nó đòi hỏi một cách cấp thiết về sự đổi mới tư duy nghệ thuật. Trong lời kêu gọi “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Nguyễn Minh Châu không cố ý phủ nhận những thành tựu văn học trong quá khứ ở giai đoạn trước mà đó là lời cảnh tỉnh, đòi hỏi văn học phải được trở về chính mình, đúng với bản chất của nó là sự phản ánh chân thực về con người và cuộc sống. Tư duy sử thi ở giai đoạn trước đã được thay thế bằng tư duy tiểu thuyết để phù hợp với nội dung phản ánh là tính đa chiều của cuộc sống. Không chỉ có thể loại tiểu thuyết mà cả với truyện vừa, truyện ngắn, tư duy tiểu thuyết cũng được sử dụng tối đa và ngày càng chiếm ưu thế ở giai đoạn này.
Cùng với sự thay đổi tư duy nghệ thuật là sự thay đổi tất yếu các yếu tố cơ bản trong cơ cấu một tác phẩm văn xuôi cả về nội dung như đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật lẫn hình thức nghệ thuật như ngôn từ, lời văn, giọng điệu,… Trong sự thức nhận về con người và hiện thực trên bình diện chiều rộng và cả chiều sâu đã tạo nên những hiện tượng văn học mới lạ. Với xu hướng dân chủ hóa đời sống văn hóa văn nghệ, văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới đã tìm thấy sự đổi mới qua nhiều khuynh hướng sáng tác. Khuynh hướng nhận thức lại xuất hiện và phát triển khá sôi nổi vào những năm đầu thời kì đổi mới đòi hỏi sự nhận thức lại hiện thực với những mặt trái còn bị che khuất, phê phán những cái xấu cái ác đằng sau những gì được tôn thờ, ca ngợi. Khơi dòng cho khuynh hướng này là tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu.