Chương 1: Tác giả Võ Quảng và tác phẩm Quê nội Chương 2: Dau ấn con người Quảng Nam Chương 3: Thiên nhiên Quảng Nam 8. Ghi chú 10 Để thuận lợi cho việc nghiên cứu cũng như tìm hiểu, tôi sử dụng kí hiệu sau để ghi chú thích: [sé tài liệu; số trang] 11 B. NOI DUNG CHUONG 1: TAC GIA VO QUANG VA TAC PHAM Q 1. Cuộc đời Võ Quảng sinh ngày 01 tháng 03 năm 1920 ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, bên bờ sông Thu Bổn, tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng.
Võ Quảng sinh ra trong một gia đình nông đân. Cha là một nhà nho hay ngâm vịnh. Từ nhỏ Võ Quảng đã rất thích được nghe cha ngâm thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ.Ông đã truyền cho con trai mình lòng yêu thơ ngay từ nhỏ. Năm 16 tuổi, Võ Quảng học trường Quốc học Huế.
Từ năm 1935 Võ Quảng đã tham gia hoạt động cách mạng và chính thức gia nhập tổ chức thanh niên Dân chủ năm 1936 ở Huế. Năm 1938 vào Đoàn Thanh niên phản đế và năm 1939 làm tổ trưởng tổ Thanh niên phản đế. Tháng 9/1941 do những hoạt động cách mạng chống lại chính quyền thực dân, ông bị Pháp bắt và giam ở nhà lao thừa phủ Huế. Cuối năm 1941 ông bị đưa đi quân thúc vô thời hạn ở xã Đại Hòa.
Trong thời gian này, Võ Quảng được anh của mình đưa cho một số sách văn học, triết học.để đọc giết thời gian trong lúc bị quản thúc. Càng đọc, Võ Quảng càng sỉ mê văn học và ông lại bắt đầu làm thơ và nhà thơ Khương Hữu Dụng là thầy giáo dạy Võ Quảng. Ngoài ra, trong thời gian này, ông còn làm một số bài thơ chữ Hán. Sau cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, Võ Quảng rất bận rộn với công tác chính quyền, đoàn thể cách mạng nên không có thời gian cho việc sáng tác văn học.
Cách mạng tháng Tám thành công, ông làm Uỷ viên tư pháp thành phố Đà Nẵng, tiếp đó làm Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Hành chính Đà Nẵng. Năm 1947 làm Hội thẩm chính trị (Phó chánh án) tòa án quân sự miền Nam Việt Nam. Từ năm 1948 đến năm 1955 làm Uỷ viên ủy ban thiếu niên và Nhi đồng Trung ương. Năm 1971 12 về công tác ở Hà Nội, phụ trách văn học thiếu nhi đến khi về hưu.
Ông sáng tác khá nhiều và đều đặn những tác phẩm dành cho thiếu nhi. Với những gì đã cống hiến, Võ Quảng xứng đáng được Nhà nước tặng Huân chương độc lập, Huân chương kháng chiến chống Pháp và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 cùng nhiều huân chương, giải thưởng của các tổ chức, đoàn thể khác trong và ngoài nước. Võ Quảng mat ngày 15 tháng 06 năm 2007 tại Bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội sau một thời gian bệnh nặng 1. Sự nghiệp văn học Với hơn nửa thế kỉ cầm bút, Võ Quảng đã tạo dựng được một sự nghiệp văn chương phong phú, đa đạng, nhiều giá trị.
Mỗi nhà văn, ngay từ khi bắt đầu cầm bút thường vẫn chọn cho mình một đối tượng sáng tác cụ thể. Là người trực tiếp cầm bút, đồng thời cũng là người từng nhiều năm phụ trách lãnh đạo Nhà xuất bản Kim Đồng, Võ Quảng đã có nhiều bài viết, bài phát biểu, lời tâm sự.trực tiếp nói lên quan niệm của ông về văn học thiếu nhi. Ong quan niém: “Thiéu nhi chiém non nữa dân số. Do đó mọi vấn đề liên quan đến thiểu nhỉ đều mang tính chất đỏ sổ” và ông cũng từng tâm sự rằng “ Hãy dành cho con trẻ những gì dep dé, tinh khiết nhất ngay từ li trẻ bước vào đời”.
Củng viết cho thiếu nhi nhưng tùy từng lứa tuổi, từng đối tượng mà ông có cách viết khác nhau nhưng phần tâm huyết nhất là những truyện viết cho lứa tuổi thiếu niên. Nhìn lại cuộc đời của Võ Quảng và con đường của ông đến với văn học thiếu nhi, chúng ta có thể thấy rằng, cho di đến có chậm, nhưng chính hành trang trong cuộc sống, qua những trải nghiệm đời thường cùng với tình yêu hết lòng vì tuổi thơ và nhất định không thể không nói đến tài năng. Đó là những yếu tố quyết định làm nên thành tựu sáng tạo nghệ thuật của ông. 13 Trong mấy chục năm cầm bút sáng tác, Võ Quảng chủ yếu viết cho lứa tuổi thiếu nhi và ông để lại cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam những tác phẩm có giá trị rất cao, đồng thời đem đến cho người đọc những tinh hoa mà tác giả đã chất lọc được trong cuộc đời của mình.
Võ Quảng vừa làm thơ, vừa viết truyện, viết tiểu luận, phê bình văn học Truyện: Cái lô cửa (1956), Cái thăng (1961), Chỗ cây đa đầu làng (1964), Cải mai (1967), Những chiếc ấm đất (1970), Quê nội (1973), Bài học tốt (1973), Tảng sáng (1978, Vượn hú (1993), Kinh tuyến vĩ tuyến (1993), Tuyển tập Võ Quảng (1998). Ngoài ra, còn có những truyện tiêu biểu như : Chuyến đi thứ hai, Hòn đá, Mèo lắm, Trăng thức, Mat giếc đỏ hoe, Trai và ốc gai, Đò ngang. Truyện của Võ Quảng tạo nên một thế giới nghệ thuật sinh động làm cho các em yêu mến hơn các loài động vật và cả những loài vật gần gũi trong cuộc sống hằng ngày, làm thức đậy trong các em một thế giới tưởng tượng phong phú, đa đạng cùng với ý thức tò mò muốn tìm hiểu sự vật, hiện tượng. và góp phần hình thành nhân cách sống, thái độ sống cho các em trong cuộc đời.
Mỗi một truyện của ông đều tràn ngập tình yêu thiên nhiên với cây cỏ, hoa lá. Cứ như vậy, ông góp phần làm giàu đời sống tỉnh thần của con người, bắt đầu từ tuổi thơ. Những truyện của ông chủ yếu được viết với giong van hom hinh, hai hước lại giàu tính giáo dục, rất hợp với tâm lí thiếu nhi. Đó thực sự là những “công trình sư phạm”, góp phần giáo dục các em về cả trí tuệ tham mi và cách ứng xử trong cuộc sống.
Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cải hoa nở (1962), Nắng sớm (1963), Anh dom đóm (1970), Măng tre (1970), En hát và ẩu quay (1972), Quả dụa đỏ (1980), Ảnh nắng sớm (1993). Đọc thơ ông, các em có cảm giác như được dạo chơi trong công viên kì thú. Ở đó biết bao nhiêu là chim, cỏ thơm, có cả những giọt sương, những mầm non, những ánh nắng ban mai, những bông hoa, gió. thiên nhiên rộn ràng âm thanh, sặc sỡ sắc màu, vui mắt vui tai nhưng cũng thật thơ mộng và óng ả.
Qua thế giới sinh động, tươi tắn của cỏ cây hoa lá, ông dạy các em lòng yêu 14 thương thiên nhiên để từ đó hướng tới một mục tiêu rộng hơn, đó là lòng yêu điều thiện, yêu cái đẹp. Thơ Võ Quảng rat giàu nhạc điệu. Chính nhạc điệu đó làm cho người đọc dễ cảm xúc, nhờ vậy, nó phát huy được chủ để tư tưởng. Cũng chính nhờ nhạc điệu đó mà các em có thể vừa hát, vừa vui chơi, nhảy múa cùng thơ ông.
Những bức tranh trong thơ Võ Quảng toát lên vẻ đẹp của cuộc sống đa dạng phong phú với nhiều mảng màn, hình khối và đường nét khác nhau làm cho các em càng yêu đời, yêu cuộc sống xung quanh. Ngoài truyện và thơ, Võ Quảng còn có trên 50 bài viết về tiểu luận, phê bình xung quanh sáng tác về thiếu nhi. Ông đã nêu ra những suy nghĩ khá toàn diện về những van đề thời sự xoay quanh bài viết cho thiếu nhi như: Cân những sáng tác tốt hơn nữa cho thiếu nhị, Phát huy tác dụng của văn học đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đúc cho thiểu nhỉ, Nghĩ và viết cho các em, Về sách viết cho thiếu nhỉ, Về người đọc sách viết cho thiếu nhủ; Nói về ngôn ngữ văn học vào nhà trường. Chính từ những bài viết này, chúng ta không chỉ hiểu thêm suy nghĩ và nỗi lòng thường trực của một nhà văn đối với tuổi thơ.
Không chỉ thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về sáng tác cho thiếu nhi mà còn có tác động trực tiếp và gián tiếp vào việc xây dựng một nền văn học dành riêng cho các em trong nền văn học hiện đại nước ta nói chung. Tác phẩm Quê nội và Tang sáng là hai truyện thành công nhất của Võ Quảng. Có thể nói sau tác phẩm Quê nội là một bước tiền vượt bậc trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của tác giả. Tác phẩm đánh dâu một sự thành công xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của Võ Quảng.
Quá trình hình thành nên tác phẩm đã được chuẩn bị rất kĩ lưỡng, chu đáo. Tính từ khi ấp ủ dự định đến khi hoàn thành, tác phẩm xuất bản và đến được tay bạn đọc, Võ Quảng đã mắt mười lăm năm để viết chưa đầy bốn trăm trang sách. Tuy thời gian Võ Quảng dành cho thơ văn không nhiều do công tác cách mạng, kháng chiến, công tác đoàn thể chính trị. nhưng 15 những gì ông để lại cho đời, trên những trang giấy có một giá trị rất lớn trong nền văn học thiếu nhi Việt Nam.
Tac pham Quê nội Quê nội là một tác pham mang dam phong vi đất và người xứ Quảng. Đây là một trong số ít tác phẩm tiêu biểu và sâu sắc nhất về đề tài cách mạng tháng Tám của Võ Quảng. Tác giả đặt câu chuyện xảy ra tại chính quê hương mình, đó là làng Hòa Phước, tỉnh Quảng Nam- một tỉnh nằm giữa nước Việt Nam vào thời điểm sau cách mạng tháng Tám, sau ngày lễ tuyên bó độc lập của nước Việt Nam năm 1945, một thời kì mà mãi đến nay vẫn còn để lại dấu tích trong nền văn học Việt Nam. Tác phẩm phản ánh tam trang phan khởi có phần hơi ngây thơ của dân làng, lòng tin tưởng kì điệu của họ vào tương lai đất nước, mặc đù chính họ là những con người phải gánh chịu bao nỗi đau, mắt mác nảy sinh từ cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Hai nhân vật chính của tác phẩm là Cục, cậu bé sống ởHòa Phước, cũng là nhân vật xưng “tôi” trong truyện và Củ Lao, cậu bé trạc tuổi Cục ở xa mới theo cha trở lại làng.Chú Hai Quân, cha của Cù Lao, vốn ở làng. Vì bị lí trưởng đánh đòn nên uất ức bỏ làng, bỏ vợ con ra đi. Sau may năm, biết tin vợ ở quê đã mat, trong một lần ra Củ Lao Chàm bán thuốc, chú Hai Quân được giới thiệu cho một cô gái. Chú lay vợ mới và ở lại quê vợ.
Cù Lao lên ba thì mẹ mat. Khi cậu bé mười hai tuổi thì Tổng khởi nghĩa nỗ ra. Chú Hai Quân đưa Củ Lao trở về làng, nhận lại họ hàng, ruột thịt.