chương 1. Con người Đỗ Chu tên thật là Chu Bá Bình, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1944 tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Bố mất sớm, mẹ vất vả nuôi bà nội và anh em ông. Năm 10 tuổi, ông cùng mẹ về sống ở Bắc Ninh, theo học trường Hàn Thuyên.
Ngôi trường này với ông như một cái nôi nuôi dưỡng tình cảm, hình thành những tố chất đẹp đẽ, ươm mầm tài năng và chắp cánh cho bao mơ ước. Ông bén duyên với văn chương từ khi còn là học sinh trường phổ thông trung học. Không phải mất nhiều thời gian để khẳng định mình, hai mươi tuổi, văn đàn đã xôn xao trước những truyện ngắn đầu tay của ông như Hương cỏ mật, Phù sa, Thung lũng cò, Chiến sĩ quân bưu. Đỗ Chu từng học qua trường bồi dưỡng viết văn Hội Nhà văn Việt Nam khóa II (1965).
Khi cả nước bước vào cao trào của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ông hăng hái nhập ngũ, trở thành người lính cao xạ thuộc quân chủng Phòng không - Không quân. Từ năm 1975, ông chuyển ngành, là Ủy viên Hội đồng văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam. 19 Đỗ Chu sáng tác khá đều đặn. Từ trong những sáng tác ấy, chúng tôi nhìn thấy được những điểm nổi bật ở con người ông.
Con người yêu quê hương, đất nước Bước vào những sáng tác của Đỗ Chu, có thể thấy rằng vùng đất Kinh Bắc nổi tiếng đẹp cảnh, đẹp người, giàu truyền thống văn hóa chính là cội nguồn, là bệ phóng cho ông “Có con sông Thương chảy vào đời tôi, lại có dòng sông Cầu đi qua đời tôi, và có những trang sách hay nâng bước tôi đi theo năm tháng” [18, tr. Kinh Bắc đi vào các tác phẩm của Đỗ Chu một cách tự nhiên như hơi thở, làm nên diện mạo một nhà văn, làm nên bản sắc của một miền quê đất nước “Quê nhà chính là đôi cánh để tôi bay qua những tháng năm hiểm nghèo về sau. Bay lên từ một truyền thống lâu đời, từ một vùng đất, vùng người như thế, bảo tôi chỉ làm một nhà văn tầm tầm sao được chứ” [70]. Mối duyên phận giữa Đỗ Chu và Kinh Bắc được bắt đầu rất đỗi nhẹ nhàng “tôi là một nhà văn đã được thở bằng một nền văn hóa dân tộc trong đó miền Kinh Bắc là sự bắt đầu đầy duyên phận”, và ngày càng gắn bó, nồng đượm, dày nghĩa, nặng tình theo suốt một đời cầm bút “càng về già trong lòng càng thương nhiều hơn, yêu nhiều hơn.
Từ nội lực ấy, không một người cầm bút nào là lại không thèm được nghĩ, được viết tiếp như con chim cuối đời muốn gửi lại cho mai sau những tiếng hót cuối cùng. Đó là những âm thanh trân trọng, gửi gắm” [72]. Tình yêu tha thiết ông dành cho quê hương, đất nước được biểu hiện ở niềm tự hào về vẻ đẹp của cảnh vật, của con người, ở ý thức giữ gìn và phát huy khả năng biểu đạt của ngôn ngữ nước nhà “Tổ quốc của tôi, những thiếu nữ mắt đen tóc đen, biển xanh, trời xanh, đất nâu và gió mùa. Nhưng yêu quý hơn cả là những mái tóc điểm sương của các bà các chị.
Tôi nhìn vào những mái tóc ấy để sống, để nghĩ ngợi, để viết và để vẽ. Người tôi biết ơn hơn hết là mẹ. Nơi gần gũi nhất với tôi là Hà Nội. Tiếng tôi hiểu nhất là tiếng Việt.
Cảm ơn cha mẹ đã cho tôi sinh ra để làm một nhà văn của xứ sở này” [50, tr. Tình yêu quê, yêu nước hiện diện trong ông như một lẽ thật tự nhiên, hòa quyện thành lí tưởng của kẻ làm trai thời binh biến. Học hết trung học, cuộc chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn đầy cam go, khốc liệt, ông đầu quân, trở thành “anh bộ đội”, thành “người chiến sĩ”. Khi ấy, cậu học trò Chu Bá Bình cảm thấy “hởi lòng hởi dạ”, vì ngay từ nhỏ đã được dạy rằng “mấy từ người chiến sĩ có mang một ý nghĩa cao quý, vì nhân dân mà phục vụ vì Tổ quốc mà hi sinh” [76].
Để rồi đi gần hết đời người, trải nghiệm nhiều, xông pha nhiều, 20 vất vả, cay đắng cũng nhiều, tự đáy lòng mình, ông nhận thấy “Tổ quốc một tình yêu lớn hơn mọi tình yêu đứng trên tất cả những gì đúng sai khôn dại, để ta phải có những đêm dài thức với bóng mình trước mảng tường vôi” [76]. Cùng với sự chuyển mình của đất nước, những thử thách đặt ra càng nhiều, đòi hỏi con người càng phải có trách nhiệm hơn trong công cuộc xây dựng đất nước. Và ông lại không thể bình thản. Dõi theo bao biến động của thời cuộc, ông vẫn canh cánh một nỗi niềm trăn trở “Cái chất kẻ sĩ nơi anh hay để cho người ta thấy có chút tự hào vì đã di cùng dân tộc, vượt qua bao cơ cực mà không sờn lòng, không oán thán, nhưng nhiều hơn, là cả một tâm sự ngổn ngang những lo toan về thời cuộc hôm qua và hội nhập hôm nay với thân phận của mỗi người dân Việt, không trừ một ai, từ những thủ tướng đến người cuốc đất nhặt cỏ” [68].
Từ yêu đất nước, ông quý trọng nhân dân. Mọi suy nghĩ của ông đều hướng về những con người cao cả ấy. Với ông, nhân dân là “những người đã nuôi sống ta, đùm bọc ta và hết lòng thương yêu tin cậy ta. Đấy là những người đã từng cùng ta sống chết, chẳng ai khác chính họ sẽ vuốt mắt chôn ta nếu ta nằm xuống sau một trận đánh trên cánh đồng làng họ.
Và ta chỉ có thể tìm thấy từ họ những tình yêu lớn để làm đầy thêm lòng yêu tổ quốc của mình” [76]. Con người tài hoa, uyên bác Không phải ngẫu nhiên, Đỗ Chu được giới đồng nghiệp và các nhà nghiên cứu gọi là một nhà văn tài hoa, lãng tử. Chất tài hoa ấy thể hiện rõ ở những lĩnh vực nghệ thuật mà Đỗ Chu đã thử sức và khẳng định mình như viết văn, làm thơ, vẽ tranh. Trong lĩnh vực văn chương, Đỗ Chu đã là một nhà văn nổi tiếng, có được chỗ đứng riêng trong làng văn.
Còn việc vẽ tranh chỉ là việc làm trong lúc nhàn rỗi, chỉ để giải khuây, như ông từng bộc bạch “Hết đọc lại viết, rồi nhiều lúc thấy bí thì mang toan màu ra hì hục vẽ, chơi một mình. Đấy chẳng qua cũng chỉ là một cách tìm sự khuây khỏa mà thôi, chứ đã hiểu biết được là bao về hội họa. Vẽ cũng là một công việc nghiêm túc và khó nhọc vô chừng” [50, tr. Có lẽ suy nghĩ nghiêm túc như thế nên dù chỉ là một cuộc dạo chơi, Đỗ Chu cũng kịp để lại dấu ấn của mình khi bức tranh ông vẽ Nguyễn Đình Thi được Bảo tàng Văn học Việt Nam đưa về trưng bày.
21 Điều mà Đỗ Chu khiến chúng ta kính trọng là sự uyên bác. Với vốn kiến thức phong phú, sâu rộng, bao quát nhiều lĩnh vực: văn chương, lịch sử, triết học, tôn giáo, những trang viết của ông thật sự cuốn hút người đọc. Con người giản dị, khiêm nhường mà nghiêm túc, sâu sắc Đỗ Chu từng chia sẻ “tôi sống cũng giản dị như viết, không có gì là cầu kỳ. Văn là người.
Viết về những cái quanh mình, về mình và sống cùng mọi người” [89]. Đó không phải là sự giản dị theo kiểu xuề xòa, hời hợt, mà là sự khiêm nhường, hướng đến lối sống tĩnh lặng. Với ông “Lặng lẽ, âm thầm, cô đơn được thì càng tốt. Và đôi khi mình phải chấp nhận để người ta quên mình đi.
Nhà văn không phải diễn viên” [90]. Trong con mắt đồng nghiệp, ông là một người “đọc nhiều, sức nhớ tốt, trí thông minh hơn người, lại biết khái quát, đúc rút rất nhanh điều đã đọc thành vốn liếng của mình”, nổi trội ở khả năng “quan sát tinh tường, sắc sảo thế giới xung quanh và tóm thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm” [82], lại “có một trí tưởng tượng nhanh nhạy, khoáng hoạt không ai bì. Trí tưởng tượng ấy lại được phù trợ bởi sức lao động bền bỉ, chăm chỉ và một ý thức trách nhiệm cao với từng con chữ, từng dòng viết” [80], nên Đỗ Chu khiến người đọc không ít lần phải dừng lại để cùng ngẫm nghĩ với những điều ông đã chiêm nghiệm, đúc kết về chuyện đời, chuyện nghề. Hoạt động văn chương 1.
Quan niệm sáng tác Đỗ Chu xem việc cầm bút là hạnh phúc “Tôi xem việc được cầm bút viết những trang văn gửi tới nhân dân mình vừa là một sứ mệnh lại vừa là một hạnh phúc” [96]. Bởi thế, trong quá trình lao động nghệ thuật, ông hướng mình vào những suy nghĩ đúng đắn, những nguyên tắc khắt khe về nghề viết và trách nhiệm của một người cầm bút. Ông coi trọng sứ mệnh của văn chương “Văn học dẫu là quan trọng đến đâu thì mãi mãi nó vẫn chỉ có một việc bồi đắp cho đời sống tinh thần của con người giàu có thêm những giá trị thuộc về chân - thiện - mỹ ” [89]. Quá trình cầm bút là hành trình tự nhận thức, tìm kiếm, sáng tạo, lưu truyền, tôn vinh cái đẹp, nâng cao nhận thức, làm phong phú tâm hồn con người “Tôi nghĩ rất nhiều và viết cũng không ít.
Với tôi, viết vừa là sáng tạo vừa phải là nhận thức. Nó như là một sự tu thân, tự dạy mình trong sống trong nghĩ. Sống 22 thế nào thì viết thế nấy. Mọi chuyện đều giản dị và chân thật.
Tôi luôn luôn muốn đời sống phải đẹp hơn, sang trọng hơn, dẫu lúc nào cũng hết sức gian khó” [98]. Ông ý thức được trách nhiệm của người cầm bút “Nhà văn có những đóng góp riêng bằng sứ mệnh cuả mình trong đời sống chung, rộng lớn. Nhà văn mang cái nhạc chữ, nhạc ý tứ, nhạc tình cảm của bản thân mình để hát lên, góp phần làm đẹp cho cây đời” [90]. Đưa nghệ thuật đến với cái đẹp, người nghệ sĩ phải miệt mài sống và sáng tạo.
Với Đỗ Chu, cái đẹp của nghệ thuật như một “trái hồng đỏ lựng như máu”, “rất đẹp, thảng thốt, khơi gợi” thường hiện ra trước mắt. Vẻ đẹp “chứa đựng nhiều bất thường, nhiều vô lý và có lý” của nó khiến “những người làm nghệ thuật nói chung và nhà văn nói riêng phải vượt qua và có thể vượt qua được nhiều điều” [53, tr. Theo ông, không phải cứ cầm bút viết hay viết nhiều là được gọi là nhà văn. Nguyễn Đăng Mạnh từng cho rằng cái quyết định làm nên một nhà văn lớn là “viết cho hay, là tạo ra những đỉnh cao nghệ thuật, những kiệt tác văn chương” [45, tr.
Đỗ Chu cũng vậy “viết nhiều là quý nhưng phải hay. Viết nhiều mà không hay thì thà viết ít, thậm chí đừng viết nữa” [84].