mở đầu cuốn sách Giới thiệu về tự sự học. Các tác giả đã đƣa ra một định nghĩa tự sự học, định nghĩa tác phẩm trần thuật, chỉ ra hƣớng phân tích cấu trúc trần thuật, giới thiệu một cái nhìn tổng quát về lịch sử tự sự học từ cổ điển - hậu cổ điển đến hiện đại. Bài viết Giới thiệu lí thuyết tự sự của Mieke Bal của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh đã giới thiệu về cuốn Tự sự học - giới thiệu về lí thuyết tự sự của Mieke Bal, xuất bản lần đầu tiên ở Anh năm 1985, tái bản lần 2 vào năm 1997. Cuốn sách trên đã trình bày một cách mạch lạc và hệ thống lí thuyết tự sự và cung cấp cho ngƣời đọc những công cụ để mô tả và phân tích văn bản tự sự.
Trên nền tảng lí thuyết, tác phẩm nghệ thuật thị giác, từ đó bà phát hiện ra những ý nghĩa văn hóa tiềm ẩn trong những hiện tƣợng này. Cũng trong cuốn sách, tác giả đã đƣa ra thuật ngữ tiêu cự trần thuật (focalization). Thuật ngữ đƣợc rút ra từ nghệ thuật nhiếp ảnh và phim, vì thế nó nhấn mạnh bản chất kĩ thuật của tác phẩm tự sự. Bài viết Cấu trúc tự sự theo quan điểm của Roland Barthes của tác giả Lê Trà Mi giới thiệu cuốn Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể.
Đây là một trong những cuốn sách góp phần hình thành chuyên ngành tự sự học trong lí luận phê bình văn học phƣơng Tây hiện đại. Tƣ tƣởng bao trùm toàn bộ công trình là coi văn bản tự sự nhƣ một ngôn ngữ. Một ngôn bản đƣợc chia ra thành các lớp đơn vị, các lớp này 11 z đƣợc kết hợp với nhau theo những qui luật nhất định. Cấu trúc tự sự của một văn bản tự sự đứng trƣớc hai khả năng phân tách và tích hợp, nhờ thế nó đƣợc bện lại, khai triển, mở ra, khép lại.
Khám phá cấu trúc tác phẩm cần có trí tƣởng tƣợng để tổng hợp và móc nối chúng với nhau. Trong bài viết Giới thiệu lí thuyết tự sự của Hayden White, Trần Ngọc Hiếu chỉ rõ luận điểm nền tảng để từ đó Hayden White triển khai toàn bộ tƣ tƣởng của mình là lịch sử như là tự sự (history as narrative). Tác giả đặc biệt quan tâm đến phƣơng diện tu từ học lịch sử. Tác giả khẳng định lịch sử cũng khai thác triệt để hiệu quả biểu đạt của các thủ pháp tu từ trong văn chƣơng, do đó nó không hề xa lạ với công việc viết sử.
Sử cũng nhƣ tự sự, không thể triệt tiêu cốt truyện, từ đó tác giả đi sâu vào nghiên cứu giá trị của tính tự sự trong việc tái hiện hiện thực. Bài viết Quan niệm về điểm nhìn nghệ thuật của Robert E. Kellogg một số vấn đề khi áp dụng các mô hình lí thuyết phương Tây vào nghiên cứu tác phẩm tự sự của Cao Kim Lan có nhiều gợi ý cho việc triển khai đề tài của chúng tôi. Ở phần một, bàn về mô hình tự sự của R.
Kellogg, Cao Kim Lan đã giới thiệu nội dung cuốn sách Bản chất của tự sự của hai tác giả. Theo đó, điểm nhìn của ngƣời kể chuyện chính là một trong những yếu tố quan trọng tạo dựng nên cấu trúc tác phẩm và xác lập mô hình truyện kể. Quyền năng của ngƣời kể chuyện nằm ở sự chi phối của điểm nhìn trong truyện kể. Phần hai của bài viết, bàn về việc ứng dụng lí thuyết điểm nhìn vào nghiên cứu tác phẩm tự sự, tác giả giới thiệu hai công trình: Tự sự Trung Quốc, những bài tiểu luận phê bình và lí thuyết, do Andrew H.
Placks biên soạn năm 1977 và Người kể chuyện bất an (tiểu thuyết Trung Quốc truyền thống đến hiện đại), của Henry Y. Các nhà phê bình đó đã ứng dụng mô hình lí thuyết tự sự của Scholes và R. Kellogg để khám phá các đối tƣợng nghệ thuật cụ thể trong văn học Trung Hoa, một nền văn học vốn vô cùng phong phú và phức tạp. Giới thiệu về Lí thuyết về người nghe chuyện trong tác phẩm tự sự của Gerald Prince, Nguyễn Thị Hải Phƣơng chỉ ra rằng Gerald Prince đã phân biệt một cách thuyết phục khái niệm ngƣời nghe chuyện với khái niệm gần gũi với nó nhƣ ngƣời 12 z đọc thực tế, ngƣời đọc trong quan niệm, ngƣời đọc lí tƣởng… Tác giả phân loại ngƣời nghe chuyện, dấu hiệu nhận biết, chức năng của ngƣời nghe chuyện… Đóng góp của Gerald Prince là đã đƣa ra một khái niệm mới: người nghe chuyện độ O.
Tác giả đã chỉ ra một số khả năng của ngƣời nghe chuyện dạng này: biết ngữ pháp tự sự, biết những qui tắc mà ngƣời kể chuyện dùng để kể lại câu chuyện một cách hấp dẫn, có khả năng tranh luận nhất định, có trí nhớ vững chắc… Lê Phong Tuyết trong bài Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần thuật đã giới thiệu về Genette và lí thuyết của ông một cách hệ thống với những khái niệm liên quan đến trần thuật. Trong đó, tác giả tập trung làm rõ hai vấn đề mới mẻ với giới nghiên cứu và bạn đọc Việt Nam là tình huống trần thuật và ngƣời nghe chuyện. Tác giả Phan Thu Hiền có bài viết Về lí thuyết tự sự của Northrop Frye. Ngƣời viết giới thiệu Northrop Frye là đại biểu quan trọng có ảnh hƣởng sâu sắc nhất của lí thuyết Phê bình huyền thoại (Myth Criticism) còn gọi là lí thuyết Phê bình nguyên mẫu (archetypal criticism) với quan niệm cho mục tiêu của văn chƣơng là đạt đến sự giới thiệu, sự trình bày cuộc sống.
Tác giả Nguyễn Đức Dân giới thiệu về Greimas trong bài Greimas - Người xây nền cho trường phái kí hiệu học Pháp với mô hình vai hành động, cấu trúc cơ sở của nghĩa, mô hình cấu tạo. Nhìn chung, ở hƣớng nghiên cứu này, giới phê bình Việt Nam bắt đầu tiếp cận lí thuyết tự sự hiện đại trên thế giới qua việc dịch, cắt nghĩa các quan điểm của các nhà lí luận. Mỗi học thuyết, trƣờng phái có một phát kiến riêng nhƣng cũng có những giới hạn nhất định mà khi tiếp nhận cần kết hợp với các kiến thức khác và kinh nghiệm để tự thiết lập nên một phƣơng pháp phù hợp nhất với đối tƣợng và mục tiêu đề ra. Hướng thứ hai: nghiên cứu các hệ vấn đề trong lí thuyết tự sự.
Nhiều công trình đi vào tìm hiểu một khía cạnh, một phƣơng diện, một vấn đề cụ thể của lí thuyết tự sự. Các phƣơng diện cụ thể của nhóm công trình này là: ngƣời kể chuyện, điểm nhìn, cốt truyện, thời gian và không gian trần thuật, cấu trúc 13 z của văn bản trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, tình huống trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Trong cuốn Giáo trình dẫn luận tự sự học của tác giả Lê Thời Tân, sau phần giới thiệu chung về tự sự học và một số vấn đề của lí thuyết tự sự học hiện đại, tác giả khảo sát các phƣơng diện của nghệ thuật tự sự: văn bản tự sự, thời gian tự sự, trạng huống tự sự, khu biệt “câu chuyện” và “văn bản truyện” trong tự sự học, khái quát kết cấu tác phẩm tự sự. Có thể nói, những kiến giải của tác giả trong cuốn sách đã gợi mở rất nhiều cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận nghệ thuật tự sự của Haruki Murakami. Khi bàn thời gian tự sự, tác giả cho rằng: “Tác phẩm tự sự chứa đựng và xử lí hai trục thời gian – thời gian câu chuyện và thời gian truyện” [104;tr.
Từ đó, tác giả cũng chỉ ra “mối quan hệ giữa thời gian câu chuyện và thời gian truyện trong tác phẩm tự sự đƣợc thể hiện ở ba phƣơng diện: trật tự tự sự, quan hệ giữa thời gian tự sự và thời gian câu chuyện, tần suất tự sự” [104;tr,42]. Trong bài viết Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong kể chuyện tác giả Đặng Anh Đào trao đổi những cách tiếp cận khác nhau của các thuật ngữ điểm nhìn (tiêu điểm) và ngƣời kể chuyện, giọng nói (giọng điệu), ngôi phát ngôn. Ở bài viết Vấn đề cách dịch thuật ngữ cốt truyện trong tự sự, tác giả Lê Huy Bắc đặt ra vấn đề: “Cần phân biệt hai khái niệm truyện (story) và cốt truyện (plot). Từ thế kỉ XIX trở về trƣớc chủ yếu là cốt truyện kịch tính.
Từ thế kỉ XX trở đi, cơ bản là cốt truyện thơ (hoặc trữ tình). Những kiểu cốt truyện chung nhất cho loại hình tự sự dựa vào các tiêu chí khác nhau: sự kiện, thời gian, nhân vật. Đây là các tiêu chí có tính phổ quát hơn cả và thiết thực dễ theo dõi đối với tiến trình đổi mới cốt truyện tự sự”. Bài viết Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật của Phƣơng Lựu, từ việc tƣờng thuật và nhận xét sơ bộ sáu quan niệm về góc nhìn trần thuật của Brooks và Warren (Hoa Kì), Greimas (Pháp), Pouillon, Friedman, Uspenski, Genette, tác giả đã tổng hợp lại thành một hệ thống tiêu điểm tự sự nhƣ sau: Phi tiêu điểm, nội tiêu điểm, ngoại tiêu điểm.
14 z Nghiên cứu khái niệm ngƣời kể chuyện, tác giả Nguyễn Thị Hải Phƣơng trong bài Người kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự đã luận giải: khái niệm ngƣời kể chuyện đƣợc hiểu là một công cụ do nhà văn hƣ cấu nên để kể chuyện, ngƣời kể chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự, ngƣời kể chuyện thống nhất nhƣng không đồng nhất với tác giả. Về chức năng của ngƣời kể chuyện, ngƣời kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, ngƣời kể chuyện với chức năng môi giới, dẫn dắt ngƣời đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật, ngƣời kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày. Qua những bài viết này, các tác giả đã góp phần làm rõ các khái niệm tự sự học nhƣ: ngƣời kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Điều đó chứng tỏ các phƣơng diện của lí thuyết tự sự luôn là vấn đề đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm. Đó chính là bộ công cụ quan trọng và cần thiết cho chúng tôi trong việc tiếp cận tác phẩm văn học nói chung, đặc biệt là tác phẩm của Murakami.
Hướng thứ ba: Tiếp cận các tác phẩm cụ thể từ góc độ tự sự học hiện đại Có rất nhiều bài viết đã ra đời sau khi các truyện ngắn, tiểu thuyết ra đời nhằm giới thiệu, bình phẩm, đánh giá, thảo luận về tác phẩm.