Chương I. Những vấn đề chung Trong chương này, chúng tôi sẽ khái quát về những vấn đề chung có liên quan trực tiếp đến đề tài. Đó là các vấn đề: thành ngữ tiếng Việt; việc sử dụng thành ngữ tiếng Việt trong tác phẩm văn học; Hồ Biểu Chánh và sự cách tân về ngôn ngữ tiểu thuyết. Khảo sát, thống kê và phân loại các đơn vị thành ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày kết quả khảo sát, thống kê và phân loại những thành ngữ thu thập được trên cứ liệu 32 tiểu thuyết của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Việc khảo sát, thống kê và phân loại sẽ dựa trên 3 tiêu chí nguồn gốc, cấu trúc của thành ngữ và đặc điểm sử dụng của tác giả. Đặc điểm sử dụng thành ngữ của Hồ Biểu Chánh trong sáng tác tiểu thuyết Trén cơ sở kết quả khảo sát, thống kê và phân loại ở Chương 2, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ đề làm rõ đặc điểm sử dụng thành ngữ của tác giả đồng thời làm sáng tỏ tác dụng của thành ngữ trong trong sự hình thành lối văn chương cỗ súy đạo lý truyền thống của Hồ Biểu Chánh. Cuối cùng là Danh mục các bài báo khoa học có liên quan đến luận văn của học viên, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục (Danh sách thành ngữ trong tiêu thuyết của Hỗ Biểu Chánh phân loại theo nguôn góc, cấu trúc và đặc điềm sử dụng của tác giả) Chuong 1. NHUNG VAN DE CHUNG 1.
Khái quát về thành ngữ tiếng Việt 1. Khái niệm thành ngữ tiếng Việt Trong tiếng Việt, đã từ lâu người ta nhận thấy có những đơn vị ngôn ngữ có tính tạo hình, được đặc trưng bởi những kết cấu đặc biệt, có tiết tấu, có vần điệu rõ ràng hoặc có cả lối lặp âm hài hoà. Những đơn vị như thế thường được dùng với mục đích tu từ, phương tiện biểu cảm. Gốc rễ của chúng thường ăn sâu vào quá khứ hằng bao thế kỷ.
Đó chính là thành ngữ. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thành ngữ. Tuy không định nghĩa một cách cụ thể nhưng hai tác giả của cuốn từ điển “7hành ngữ tiếng Liệt” (1978), Nguyễn Lực và Lương Văn Đang đã xác định “zznj giới ” của thành ngữ cũng như trình bày quan điểm của mình đối với thành ngữ như sau: “Giới hạn sẽ gặp ở bậc thấp nhất của thành ngữ là từ ghép. Giới han sẽ gặp ở bậc cao nhất của thành ngữ là câu.
Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị giáp ranh, nằm ở giữa hai đơn vị này " [43, tr.13] “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (2005) định nghĩa: “7hành ngữ là tập hợp từ cố định, đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó” [50, tr.915] Thống nhất với quan điểm này, “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học ” do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ có định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu ” [61, tr.27] Trong công trình “Từ và vốn rừ điếng Việt hiện đại ¡" (1976), giáo sự Nguyễn Văn Tu cũng định nghĩa: “7hành ngữ — đó là cụm từ cố định, trong đó các từ phân lớn đã mắt đi tính độc lập ngữ nghĩa của chúng, và sau khi kết hợp với nhau, chúng tạo thành một thê thông nhất bên chặt. Nghĩa của kết hợp đó 10 không được tạo nên bởi nghĩa của những thành tố (hình vị) nằm trong thành phân của nó ” [62, tr.185] Ở công trình “Vấn để cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” (1976) Hồ Lê cũng cho rằng “Thành ngữ là một tổ hợp từ có định về cầu trúc, có nghĩa bóng, được sử dụng đề miêu tả những hình ảnh, những hiện tượng, tính cách hoặc quan hệ" [42, tr.97] Còn Hoàng Văn Hành trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” (1988) và “Thành ngữ học tiếng Việt (2004) lại nhắn mạnh đến tính “bóng bẩy” về nghĩa của thành ngữ. Ông cho rằng “?hành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bên vững về hình thái — cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày ” [25, tr.27] Đồng quan điểm này, Nguyễn Thiện Giáp (1998) trong “7ừ vựng học tiếng Việt” có ý kiến tương tự: “thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm ” [20, tr.T7] Nguyễn Văn Hằng (1999) trong “Thành ngữ bồn yếu tổ trong tiếng Việt hiện đại” đã xác định: “Thành ngữ là một loại cụm từ đặc biệt có cấu trúc rất bền chặt (cô định), có vẫn điệu và thành phân ngữ âm đặc biệt; nghĩa của thành ngữ không thể suy ra từ tổng số nghĩa của các yếu tố cấu thành nó: thành ngữ có nghĩa bóng, nghĩa hình ảnh - khái quát, thường có kèm theo giá trị biểu cảm; thành ngữ thường dùng để định danh những hiện tượng của hiện thực và thường hoạt động trong câu với tư cách là một bộ phận cầu thành của nó " (28, tr.T1] Qua những định nghĩa trên, có thê thấy, dù được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng chung quy lại thành ngữ được quan niệm một cách thống nhất ở hai vấn đề: Thứ nhất là thành ngữ có tính chất cố định vẻ cấu trúc; thứ hai là thành ngữ có tính hoàn chỉnh vẻ nghĩa và mang sắc thái biểu cảm cao. Đặc trưng thứ nhất thẻ hiện ở chỗ thành phần từ vựng của thành ngữ nói chung là ỗn định, tức là các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong khi sử dụng.
Ngoài ra thành ngữ cũng có tính bền vững về cấu trúc thể 1I hiện ở sự cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của người bản ngữ. Dạng ôn định của thành ngữ là dạng chuẩn, mang tính xã hội cao. Tuy vậy, dạng chuẩn này của thành ngữ trong khi sử dụng vẫn uyễn chuyển. Nói là chuẩn vì có sự bắt buộc, có tính quyết định của xã hội, nhưng không vì thế mà hạn chế sự sáng tạo ở cá nhân, đặc biệt là của những cây bút tài năng.
Đó chính là điều giải thích cái riêng trong phong cách ngôn ngữ của tác giả. Đặc trưng thứ hai thể hiện ở chỗ thành ngữ biểu thị những khái niệm hay biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Nói cách khác, thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ. Tuy nhiên, khác với các đơn vị từ vựng bình thường, thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữ không hướng đến điều được nêu trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó loại suy ra từ chúng.
Ví dụ, thành ngữ “Cá nằm trên thới ” không phải miêu tả con cá nằm trên thớt mà ngụ ý nói đến hiện tượng là ở trạng thái nguy hiểm đối với sự sống còn. Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hoá. Có hai loại biểu trưng hóa. Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương thích giữa âm và nghĩa là giá trị biểu trưng hóa ngữ âm.
Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương đồng và tương cận trong quá trình liên hội ngữ nghĩa gọi là giá tri biéu trưng hóa ngữ nghĩa. Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ tương đồng là so sánh. Và nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả hai hình thái biểu trưng hóa: hình thái tỉ dụ (so sánh), hình thái ân dụ (so sánh ngầm), 1. Những con đường hình thành thành ngữ tiếng Việt Giống như các từ trong ngôn ngữ, thành ngữ là những đơn vị có sẵn, xuất hiện dần từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm khác nhau và được sử dụng rộng, rãi, tự nhiên trong xã hội.
Các kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng các yếu tố tạo nên thành ngữ vốn là những từ độc lập, tức những đơn vị định danh có nghĩa 12 từ vựng và có chức năng cú pháp ổn định. Đó là các thành ngữ kiểu như: đẩu cua tai nheo, được voi đòi tiên, tay làm hàm nhai Tuy vậy, trong hệ thống thành ngữ mỗi ngôn ngữ, cũng có những thành ngữ nếu xét trên quan điểm đồng đại, không dễ dàng nhận biết được nghĩa của các yếu tố; do đó, việc suy xét nghĩa của thành ngữ cũng như việc tìm kiếm nguồn gốc của nó cũng trở nên khó khăn. Trong tiếng Việt, loại thành ngữ này rất nhiều: đồng không mông quạnh, chân đăm đá chân chiêu, khoẻ như vâm, tai vách mạch dừng. hoặc thành ngữ gốc Hán như: xáp xí xáp ngẫu, lang bạt kì hỗ, du thủ du thực, dĩ thực vi tiên, kính nhỉ viễn chỉ, thiên tải nhất thì, bạo hổ bằng hà, kiến giá nhất phận.
Ngoài ra, việc tồn tại các biến thể của thành ngữ biểu đạt cùng một ý nghĩa hay biểu đạt các ý nghĩa, các sắc thái khác nhau, cũng gây khó khăn đáng, kể cho việc luận giải nghĩa thành ngữ và truy tìm xuất xứ của nó. Nhưng nhờ vào khảo sát những trường hợp phỏ biến, có quy luật về ngữ nghĩa, cấu tạo của thành ngữ của các ngôn ngữ khác nhau, người ta cũng phát hiện ra được những nguồn chủ yếu, phổ biến, tạo nên hệ thống thành ngữ một ngôn ngữ. Thành ngữ tiếng Việt được hình thành từ những con đường sau: 1. Sử dụng thành ngữ tiếng Hán dưới các hình thức khác nhau Trong tiếng Việt, thành ngữ được vay mượn từ tiếng nước ngoài chủ yếu là các thành ngữ gốc Hán.
Những thành ngữ này khi đi vào tiếng Việt, có thể được giữ nguyên hình thái — ngữ nghĩa hoặc Việt hoá cả về từ vựng, ngữ. nghĩa lẫn cầu trúc. Giữ nguyên hình thái - ngữ nghĩa thành ngữ gốc Những thành ngữ vay mượn được sử dụng dưới hình thức nguyên dạng chiếm tỉ lệ khá lớn trong toàn bộ thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt. Đó là những thành ngữ: chí công vô t, đông tâm hợp lực, đồng cam cộng khổ, xuất diện, an cư lạc nghiệp, thiên biến vạn hóa, giá nhân giả nghĩa, xuất khẩu thành chương, tâm thân bắt định, thiên kinh địa nghĩa, thiên la địa võng, sinh li 13 tử biệt, hữu danh vô thực, tầm chương trích cú, danh chính ngôn thuận, tự lực cánh sinh, tự cấp tự túc, tự tư tự lợi, bắt tỉnh nhân sự.