Nghiên cứu đặc điểm từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt

Tổng hợp kiến thức Đặc điểm từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên ngành

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

163
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm từ ngữ lóng trong tiếng Hán

Từ ngữ lóng trong tiếng Hán có những đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa riêng biệt. Đặc điểm chung của từ ngữ lóng tiếng Hán là tính chất không chính thức, thường được sử dụng trong các nhóm xã hội nhất định. Những từ này thường mang tính chất hài hước, châm biếm hoặc thể hiện sự thân mật giữa các thành viên trong nhóm. Cấu trúc của từ ngữ lóng tiếng Hán thường đơn giản, dễ nhớ và dễ phát âm, điều này giúp cho việc giao tiếp trở nên nhanh chóng và hiệu quả. Đặc điểm cụ thể về cấu tạo từ ngữ lóng tiếng Hán cho thấy sự biến đổi linh hoạt trong ngôn ngữ, từ việc kết hợp các thành tố ngữ nghĩa đến việc tạo ra các từ mới từ các từ gốc. Sự phát triển của từ ngữ lóng trong tiếng Hán cũng phản ánh sự thay đổi trong văn hóa và xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại với sự giao thoa văn hóa. Việc nghiên cứu từ ngữ lóng tiếng Hán không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn về văn hóa và tâm lý của người sử dụng.

1.1 Đặc điểm cấu tạo từ ngữ lóng tiếng Hán

Cấu tạo của từ ngữ lóng trong tiếng Hán thường dựa trên các yếu tố ngữ âm và ngữ nghĩa. Các từ lóng thường được hình thành từ việc biến đổi các từ gốc, hoặc kết hợp các thành tố để tạo ra nghĩa mới. Ví dụ, từ lóng có thể được tạo ra bằng cách ghép các từ có nghĩa liên quan hoặc bằng cách sử dụng các từ có âm thanh tương tự để tạo ra sự hài hước. Đặc điểm này cho thấy sự sáng tạo trong ngôn ngữ và khả năng thích ứng của người sử dụng. Hơn nữa, từ ngữ lóng trong tiếng Hán thường mang tính chất địa phương, phản ánh đặc điểm văn hóa và phong tục tập quán của từng vùng miền. Điều này làm cho từ ngữ lóng trở thành một phần không thể thiếu trong việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa của người Hán.

II. Đặc điểm từ ngữ lóng trong tiếng Việt

Tương tự như tiếng Hán, từ ngữ lóng trong tiếng Việt cũng có những đặc điểm riêng biệt. Từ ngữ lóng tiếng Việt thường được sử dụng trong các nhóm xã hội khác nhau, thể hiện sự phân hóa trong ngôn ngữ. Đặc điểm chung của từ ngữ lóng tiếng Việt là tính không chính thức và thường mang tính chất hài hước, châm biếm. Cấu trúc của từ ngữ lóng tiếng Việt cũng rất đa dạng, từ việc sử dụng các từ đơn giản đến việc kết hợp nhiều từ để tạo ra nghĩa mới. Sự phát triển của từ ngữ lóng trong tiếng Việt phản ánh sự thay đổi trong xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại với sự giao thoa văn hóa. Việc nghiên cứu từ ngữ lóng tiếng Việt không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn về văn hóa và tâm lý của người sử dụng.

2.1 Đặc điểm cấu tạo từ ngữ lóng tiếng Việt

Cấu tạo của từ ngữ lóng trong tiếng Việt thường dựa trên các yếu tố ngữ âm và ngữ nghĩa. Các từ lóng thường được hình thành từ việc biến đổi các từ gốc, hoặc kết hợp các thành tố để tạo ra nghĩa mới. Ví dụ, từ lóng có thể được tạo ra bằng cách ghép các từ có nghĩa liên quan hoặc bằng cách sử dụng các từ có âm thanh tương tự để tạo ra sự hài hước. Đặc điểm này cho thấy sự sáng tạo trong ngôn ngữ và khả năng thích ứng của người sử dụng. Hơn nữa, từ ngữ lóng trong tiếng Việt thường mang tính chất địa phương, phản ánh đặc điểm văn hóa và phong tục tập quán của từng vùng miền. Điều này làm cho từ ngữ lóng trở thành một phần không thể thiếu trong việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa của người Việt.

III. So sánh đặc điểm từ ngữ lóng giữa tiếng Hán và tiếng Việt

Việc so sánh từ ngữ lóng giữa tiếng Hántiếng Việt cho thấy nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Cả hai ngôn ngữ đều sử dụng từ ngữ lóng như một phương tiện giao tiếp trong các nhóm xã hội, thể hiện sự thân mật và tính không chính thức. Tuy nhiên, cách thức hình thành và sử dụng từ ngữ lóng lại có sự khác biệt rõ rệt. Trong tiếng Hán, từ ngữ lóng thường mang tính chất hài hước và châm biếm, trong khi trong tiếng Việt, từ ngữ lóng có thể mang tính chất chỉ trích hoặc phản ánh sự phân hóa xã hội. Sự khác biệt này không chỉ phản ánh đặc điểm ngôn ngữ mà còn thể hiện sự khác biệt văn hóa giữa hai dân tộc. Việc nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt này giúp làm rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa của người Hán và người Việt.

3.1 Tương đồng và khác biệt trong cấu tạo từ ngữ lóng

Cấu tạo của từ ngữ lóng trong tiếng Hántiếng Việt đều có sự sáng tạo và linh hoạt. Tuy nhiên, trong tiếng Hán, từ ngữ lóng thường được hình thành từ các từ gốc với sự biến đổi âm thanh, trong khi trong tiếng Việt, từ ngữ lóng thường được tạo ra từ việc ghép các từ có nghĩa liên quan. Sự khác biệt này cho thấy cách thức mà mỗi ngôn ngữ phản ánh văn hóa và xã hội của mình. Hơn nữa, việc sử dụng từ ngữ lóng trong giao tiếp hàng ngày cũng khác nhau, với tiếng Hán thường được sử dụng trong các nhóm xã hội trẻ tuổi, trong khi tiếng Việt có thể được sử dụng rộng rãi hơn trong nhiều nhóm xã hội khác nhau.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tiếng lóng 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ngôn ngữ học xã hội là một phân ngành của ngôn ngữ học, tiếp cận theo hướng liên ngành, giữa ngôn ngữ học và xã hội học.

Vì thế, ngôn ngữ học xã hội lấy ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu và giải thích các hiện tượng của ngôn ngữ bằng các nhân tố xã hội. Vì nghiên cứu ngôn ngữ trong đời sống thực tế (trong sử dụng) cho nên nếu như ngôn ngữ học cấu trúc chú trọng vào khung cấu trúc hệ thống của ngôn ngữ, tức là nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng tĩnh thì ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng hành chức. Theo đó, đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội là biến thể (variety). Các công trình Ngôn ngữ học xã hội có tính chất nền tảng như: The Sociolinguistics of Society của Fasold Ralph xuất bản lần đầu năm 1984 [84]; An Introduction to Sociolinguistics của Wardhaugh Ronal xuất bản lần đầu năm 1986, tái bản lần thứ năm vào năm 2006 [94] đã nêu ra các vấn đề khái quát chung như dẫn luận về Ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ và xã hội… Cùng với nghiên cứu có tính nền tảng, nhiều công trình nghiên cứu cụ thể gắn với các nhân tố xã hội như tuổi tác, giới tính, quyền lực, nghề nghiệp, v.

Đây chính là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, tức là lựa chọn ngôn ngữ như thế nào cho phù hợp. Chẳng hạn: Language in Social groups của Gumperz J.J (1971) [85], Language and Woman’s Place (1975) của Robin Lakoff [91], Age as a Sociolinguistic variable của Eckert Penelope (1998) [83]… Có thể thấy các công trình này đã tập trung vào sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với việc sử dụng ngôn ngữ như như nhóm xã hội, giới, tuổi. Kết quả nghiên cứu này gợi mở cho nghiên cứu về tiếng lóng. Bởi vì, tiếng lóng luôn gắn với nhóm xã hội, gắn với người sử dụng tiếng lóng.

8 Với tư cách là biến thể sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ, tiếng lóng là một loại phương ngữ xã hội: chúng được các nhóm xã hội sử dụng để giao tiếp trong nội bộ nhóm và cũng hướng đến mục đích nhằm bảo vệ lợi ích nhóm. Đây cũng là một trong các nội dung nghiên cứu của Ngôn ngữ học xã hội. Các tác giả với các công trình nghiên cứu về tiếng lóng trên thế giới như: Tác giả Dundes Alan và Schonhorn trong công trình “Kansas University Slang: A new generation” (1963) [82] đã nghiên cứu về tiếng lóng của sinh viên trường Đại học Kansas. Tác giả đã gọi tiếng lóng của sinh viên ở trường Đại học là một thế hệ mới trong ngôn ngữ “new generation”.

Tác giả Hudson trong “The language of the teenage revolution: the dictionary defeated” (1983) [86] khi nghiên cứu xu hướng sử dụng tiếng lóng của nhóm thanh niên trẻ trong xã hội đã nhận thấy có sự khác biệt lớn giữa tiếng lóng với tiếng Anh chuẩn. Tác giả đã liệt kê và chú giải các từ lóng mới của giới trẻ trong thập niên 50 và 60 ở Anh. Từ đó, tác giả đưa ra nhận định: thanh niên, giới trẻ chính là lực lượng làm nên cuộc cách mạng ngôn ngữ khác xa với ngôn ngữ “chuẩn” mà xã hội vẫn thường công nhận. Tác giả Thorne trong “The latest youth slang” (Tiếng lóng mới nhất của giới trẻ) (2007) khẳng định rằng: tiếng lóng của giới trẻ hiện nay là nguồn hình thành, sáng tạo và phát triển của ngôn ngữ mới nhất trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Anh.

Các thanh niên, thiếu niên và sinh viên thậm chí đến cả lớp các tiền thiếu niên cũng tham gia vào quá trình làm nên cuộc cách mạng sáng tạo ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các kỹ thuật ngôn ngữ tạo sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngôn ngữ tiếng Anh. Ngôn ngữ khi đó cũng có những trào lưu rất “mốt” giống như thế giới thời trang có sự thay đổi liên tục đầy ngoạn mục, không những hài hước mà thực sự còn đầy tính sáng tạo và “khiêu khích” thời đại. Không thể không nhắc đến công trình nghiên cứu của Clem Adelman (1976) The language of teenage groups - They don't speak our language [81]. 9 Trong công trình này, tác giả lấy tuổi làm nhân tố xã hội để tập trung nghiên cứu, khảo sát ngôn ngữ cuả thanh thiếu niên hippie, thanh niên đầu trọc Anglo - America ( người Mỹ gốc Anh).

Theo tác giả nhóm thanh thiếu niên này nói thứ tiếng Anh - Mỹ lệch chuẩn. Cũng theo hướng này, không ít người đã cất công sưu tầm, tìm hiểu ngôn ngữ của giới trẻ bằng cách lập ra các trang web. Từ đó, họ xây dựng bảng từ, biên soạn thành các cuốn từ điển trực tuyến về ngôn ngữ của giới trẻ trong đó có từ ngữ lóng. Đây là những tư liệu quý về ngôn ngữ như là sự lưu giữ hiện tượng ngôn ngữ nhất thời và thông qua đó có thể hiểu được văn hóa của một giai đoạn.

Nhà văn cũng góp một vai trò quan trọng trong việc lưu giữ tiếng lóng. Ở Việt Nam trước đây, có thể tìm thấy các từ ngữ lóng trong tác phẩm nổi tiếng “Bỉ vỏ” của của Nguyên Hồng và ngày nay cũng nhiều nhà văn đã đưa tiếng lóng vào trong tác phẩm của mình. Nhìn ra thế giới cũng có thể thấy điều này, chẳng hạn có thể nhiều nhà văn Pháp đã đưa tiếng lóng vào trong tác phẩm của mình ví dụ: tác phẩm “Les Mystères de Paris” (“Bí mật thành Pari” của Eugène Sue; Les Mémoires de l'ex- bagnard (“Kí ức của cựu tù khổ sai”) Eugène-François Vidocq. Đáng chú ý là một số tác giả đã nghiên cứu về tiếng lóng ví dụ: Essai sur l'argot (“Nghiên cứu về tiếng lóng”) của Honoré de Balzac (1834), L'Argot (Tiếng lóng) của Pierre Guiraud (1956), Le français que l'on parle (“Tiếng Pháp mà chúng tôi nói”) của Yves Cortez (2003), v.

Bên cạnh các nghiên cứu có tính độc lập, tiếng lóng thường được nghiên cứu trong mối quan hệ với biệt ngữ, từ cấm kị, uyển ngữ như: tác giả Keith Allan và Kate Burridge với công trình Forbidden words taboo and the censoring of language (Từ cấm kị) do Nxb Cambridge xuất bản năm 2006 [87]. Trong công trình The Jargon file (Biệt ngữ tin) xuất bản năm 1975, tác giả Raphael Finked đã trình bày “một bộ sưu tập” các từ biệt ngữ của ngành 10 công nghệ thông tin từ khi công nghệ thông tin còn ở thời kì sơ khai [90]; tác giả Theodor W. Adorno với công trình Jargon of Authentichity (Tính xác thực của biệt ngữ) (1973) đề cập đến phê bình triết học của Heidegger và tư tưởng Đức đã làm rõ về biệt ngữ hiện sinh, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và chân lí. [92] Nguyễn Văn Tố trong tác phẩm L' argot anamite de Hanoi (1925) [97] đã đưa ra cách nhìn nhận tương đối mới mẻ về tiếng Việt qua sự mô tả khái quát về hiện tượng tiếng lóng.

Tác giả nhận định, tiếng Việt cũng có hiện tượng tiếng lóng hơn nữa lại có nhiều tiếng lóng từ mọi ngành nghề trong xã hội như tiếng lóng của nhóm trộm cắp, từ người đưa đò, nhóm kéo xe cho đến cả những cô đào hát… Tuy nhiên, tiếng lóng không quá phức tạp mà chỉ gói gọn trong một vài cách diễn đạt nhất định. Trong tiếng Việt, tiếng lóng được phân biệt bởi từ tố vùng miền, điều này không ảnh hưởng đến bản chất vốn có của tiếng lóng mà thậm chí trái lại cũng là một nguyên tắc chung chi phối sự hình thành của tiếng lóng. Bên cạnh các nghiên cứu có tính chuyên sâu còn có các cuốn từ điển biệt ngữ tiếng Anh được phát hành như: A dictionary of slang and jargon (Từ điển tiếng lóng và biệt ngữ) (1988) của tác giả Barrece M. Các công trình nghiên cứu về tiếng lóng trên thế giới nêu trên sẽ là tiền đề cơ sở cho việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tiếng lóng ở Trung Quốc và Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc Nghiên cứu về tiếng lóng là một trong những địa hạt thu hút khá nhiều các nhà nghiên cứu Trung Quốc quan tâm tìm hiểu. Việc nghiên cứu tiếng lóng ở Trung Quốc được tiến hành từ nhiều phương diện: nghiên cứu lí luận thuần túy, nghiên cứu tiếng lóng trên các văn bản cổ, nghiên cứu tiếng lóng trên các phương tiện truyền thông… Phạm vi ngữ liệu cũng được mở rộng từ việc tìm hiểu trên các văn bản đến việc khảo sát thực tế trên các nhóm đối 11 tượng cụ thể. Có thể kể đến các nghiên cứu như: Tác giả Lục Tĩnh Trinh (陆静贞 - Lu Jingzhen) trong tác phẩm “新 编 俗 俚 语 大 辞 典” (Đại từ điển tục lý ngữ mới biên soạn) đã cho rằng: “Tục ngữ và lý ngữ (tiếng lóng) là hình thức ngôn ngữ được hình thành trên cơ sở ngôn ngữ nói trong cuộc sống thường nhật của quần chúng nhân dân” (俗 语 和 俚 语 是 在 群 众 口 头 的 基 础 上 形 成 的 语 言 形 式 ).

Đồng thời tác giả còn nhận định, tiếng lóng (lý ngữ) được giải thích theo thói quen, tập quán sử dụng ngôn ngữ là loại “từ ngữ phương ngữ được dùng một cách thông tục, hoặc phạm vi sử dụng hẹp nhất” (“粗 俗 的 或 通 行 面 极 窄 的 方 言 词”) [122]. Quả thực, tiếng lóng đại đa số là từ phương ngôn hơn nữa còn là từ khẩu ngữ thông tục. Tuy nhiên, thông qua quá trình truyền miệng đã được mọi người sử dụng một cách rộng rãi hơn, nên đã vượt lên giới hạn của khu vực sử dụng. Trong xã hội thông tin bùng nổ hiện nay, sự giao lưu đi lại giữa các vùng miền thuận lợi, phát triển.

Sự giao lưu trao đổi giữa mọi người theo đó cũng ngày càng trở nên thường xuyên hơn, do vậy một số từ ngữ lóng đã từ “từ phương ngữ có phạm vi sử dụng hẹp nhất” đã dần phát triển trở thành thứ ngôn ngữ khẩu ngữ được sử dụng phổ biến, là hiện tượng ngôn ngữ đáng được chú ý. Ví như từ “炒鱿鱼” (mực xào) nguyên là từ chỉ một món ăn của Quảng Đông, mọi người trên cơ sở hình ảnh miếng mực khi xào sẽ cuộn lại mà liên tưởng đến việc “cuộn gọn chăn màn, nhấc người đi tìm việc khác” để chỉ việc một người bị mất việc. Đặc biệt kể từ sau cải cách mở cửa kinh tế (tháng 12 năm 1978) của Trung Quốc, hệ thống tiếng lóng ngày càng phát triển mạnh mẽ, bộ phận không nhỏ các từ ngữ lóng được sử dụng phổ biến và gia nhập vào hệ thống từ ngữ toàn dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu đặc điểm từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Thị Hoài Tâm, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Văn Khang, tập trung vào việc phân tích và so sánh các đặc điểm của từ ngữ lóng trong hai ngôn ngữ Hán và Việt. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phát triển và biến đổi của ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa mà còn mở ra những góc nhìn mới về cách thức giao tiếp và biểu đạt trong xã hội hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học, bạn có thể tham khảo bài viết "Tiểu luận về văn hóa Việt Nam: So sánh giao tiếp giữa phương Đông và phương Tây", nơi so sánh các phương thức giao tiếp giữa hai nền văn hóa khác nhau. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ về đặc điểm ngôn ngữ trong tiêu đề tác phẩm của Lỗ Tấn và phương pháp dịch sang tiếng Việt" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ trong văn học, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức dịch thuật và ngữ nghĩa trong các tác phẩm văn học. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu so sánh tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc: Tương đồng và khác biệt" sẽ giúp bạn khám phá thêm về sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt văn hóa giữa các quốc gia, từ đó làm phong phú thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa.