Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tiếng lóng là một hiện tượng ngôn ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội và giao tiếp khẩu ngữ mang tính thông tục, đậm màu sắc địa phương và phong vị dân gian. Dưới góc độ của ngôn ngữ học xã hội, tiếng lóng được xác định là một loại phương ngữ xã hội đặc thù, gắn liền với các nhóm xã hội nhất định nhằm phục vụ nhu cầu giao tiếp nội bộ và nhận diện thành viên. Sự tồn tại, phát triển hay tiêu biến của tiếng lóng phụ thuộc trực tiếp vào sự vận động của nhóm xã hội sản sinh ra nó.

Từ thập niên 1980 đến nay, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tại Việt Nam và Trung Quốc đã thúc đẩy sự phân hóa xã hội diễn ra mạnh mẽ. Sự xuất hiện ngày càng đa dạng của các nhóm xã hội đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của các biến thể ngôn ngữ, trong đó có từ ngữ lóng. Mặc dù đóng vai trò nòng cốt tạo nên tiếng lóng và thể hiện năng lực biểu đạt cao, việc nghiên cứu tiếng lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt trước đây vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có tính đối chiếu hệ thống về cả hai bình diện cấu tạo và ngữ nghĩa. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là chưa có công trình nào tại Việt Nam tiến hành khảo sát, miêu tả và đối chiếu đồng thời đặc điểm của từ ngữ lóng trên tư liệu của cả tiếng Hán và tiếng Việt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến tiếng lóng và phân tích nguồn tư liệu thu thập được, luận án tiến hành miêu tả, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu hướng tới việc đóng góp vào lý luận nghiên cứu tiếng lóng nói riêng, phương ngữ xã hội trong ngôn ngữ học xã hội nói chung, đồng thời làm rõ đặc trưng văn hóa - dân tộc phản ánh trong ngôn ngữ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tiếng lóng, hệ thống hóa các quan điểm lý luận liên quan để xây dựng khung cơ sở lý luận cho luận án.
    2. Khảo sát, miêu tả đặc điểm của từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt trên hai bình diện: hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa.
    3. Thông qua việc khảo sát và đối chiếu ngữ liệu, chỉ ra những đặc điểm chung (tính phổ biến) và đặc điểm riêng (tính đặc thù) của từ ngữ lóng trong mỗi ngôn ngữ.

Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ lóng của tiếng Hán và tiếng Việt (bao gồm cả từ lóng và ngữ lóng).
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ ngữ lóng thuộc 4 nhóm xã hội mang tính chất khép kín, theo quan niệm truyền thống thuộc các nhóm xã hội tiêu cực/nhóm kín trong xã hội, bao gồm:
    1. Nhóm trộm cướp
    2. Nhóm ma túy
    3. Nhóm mại dâm
    4. Nhóm buôn lậu
  • Nguồn ngữ liệu và quy mô khảo sát: Luận án tiến hành thu thập và khảo sát tổng cộng 2.944 đơn vị từ ngữ lóng, chia đều cho hai ngôn ngữ:
    • Ngữ liệu tiếng Việt: 1.472 từ ngữ lóng.
    • Ngữ liệu tiếng Hán: 1.472 từ ngữ lóng.
Tiêu chí Ngữ liệu tiếng Việt Ngữ liệu tiếng Hán
Số lượng khảo sát 1.472 từ ngữ lóng 1.472 từ ngữ lóng
Nhóm xã hội khảo sát Trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu Trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu
Nguồn từ điển chính Tiếng lóng tiếng Việt (Nguyễn Văn Khang, 2002) Tiếng lóng Trung Quốc mới nhất – Đối chiếu Hán – Anh (Lý Thục Quyên, 2006); Đại từ điển tục ngữ, tiếng lóng mới biên soạn (Lục Tĩnh Trinh, 2007)
Nguồn văn bản báo chí Báo Công an nhân dân, An ninh thủ đô, An ninh thế giới Báo chí, văn bản truyền thông Trung Quốc
Nguồn truyền thông & mạng xã hội Phim truyền hình VTV1, VTV3; mạng xã hội Facebook Mạng xã hội Weibo, diễn đàn truyền thông

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu về tiếng lóng trên thế giới được định hình từ các công trình nền tảng của ngôn ngữ học xã hội:

  • Các nghiên cứu nền tảng về ngôn ngữ và xã hội: Fasold Ralph (1984) với The Sociolinguistics of Society; Wardhaugh Ronald (1986, tái bản 2006) với An Introduction to Sociolinguistics; Gumperz J.J. (1971) với Language in Social groups; Robin Lakoff (1975) với Language and Woman’s Place; Eckert Penelope (1998) với Age as a Sociolinguistic variable. Các công trình này đặt nền móng cho việc phân tích sự chi phối của các nhân tố xã hội (tuổi tác, giới tính, tầng lớp, nghề nghiệp) đối với việc sử dụng ngôn ngữ.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu về tiếng lóng: Dundes Alan và Schonhorn (1963) nghiên cứu tiếng lóng sinh viên Đại học Kansas (Kansas University Slang: A new generation); Hudson (1983) trong The language of the teenage revolution: the dictionary defeated nghiên cứu tiếng lóng của giới trẻ Anh thập niên 50 và 60; Thorne (2007) trong The latest youth slang khẳng định tiếng lóng giới trẻ là nguồn sáng tạo ngôn ngữ mới; Clem Adelman (1976) trong The language of teenage groups - They don't speak our language khảo sát ngôn ngữ của nhóm thanh thiếu niên hippie và thanh niên đầu trọc Anglo-America.
  • Tiếng lóng trong văn học và từ điển học: Các tác phẩm của Eugène Sue (Les Mystères de Paris), Eugène-François Vidocq (Les Mémoires de l'ex-bagnard), nghiên cứu của Honoré de Balzac (1834, Essai sur l'argot), Pierre Guiraud (1956, L'Argot), Yves Cortez (2003, Le français que l'on parle). Nghiên cứu về ranh giới giữa tiếng lóng, biệt ngữ và từ cấm kị gồm có Keith Allan và Kate Burridge (2006, Forbidden words taboo and the censoring of language), Raphael Finkel (1975, The Jargon file), Theodor W. Adorno (1973, Jargon of Authenticity), Barrece M. (1988, A dictionary of slang and jargon), và Nguyễn Văn Tố (1925, L'argot anamite de Hanoi).

Các hướng nghiên cứu tại Trung Quốc

Nghiên cứu tiếng lóng tại Trung Quốc được triển khai qua các phương diện lý luận, thư tịch cổ và khảo sát hiện đại:

  • Nghiên cứu văn bản cổ và từ điển: Trương Tử Tài (Zhang Zicai) nghiên cứu bộ sách Tiếng lóng vi thực (俚语徵实) của Đường Huấn Phương (thời Thanh, 1873) gồm 3 quyển phân loại tiếng lóng theo số lượng chữ (1 chữ, 2-3 chữ, 4 chữ trở lên) trích từ hơn 100 tác phẩm. Lục Tĩnh Trinh (Lu Jingzhen, 2007) trong Đại từ điển tục lý ngữ mới biên soạn xác định lý ngữ hình thành trên cơ sở khẩu ngữ thường nhật và là từ ngữ phương ngữ dùng thông tục có phạm vi hẹp. Lý Thục Quyên (Li Shujuan, 2006) trong Tiếng lóng Trung Quốc mới nhất – Đối chiếu Hán – Anh tập hợp 1.400 mục từ tiếng lóng thông dụng.
  • Nghiên cứu cơ chế và xu hướng hiện đại: Diêm Văn Bồi (Yan Wenpei) phân tích khái niệm và 4 cơ chế hình thành tiếng lóng hiện đại: Nguyên tắc liên quan (关联原则), Bối cảnh tri nhận (认知语境), Mô phỏng meme (魔音模仿) và Khuynh hướng giá trị tâm lý nghịch đảo (逆反心理的价值取向). Nhậm Tĩnh Minh (Ren Jingming) và Dương Kim Cúc (Yang Jinju) phân tích tính khẩu ngữ và tính phi chuẩn. Trần Nguyên (Chen Yuan) chỉ ra xu hướng tiếng lóng thâm nhập vào ngôn ngữ chuẩn mực. Các nghiên cứu về ngữ thịnh hành xã hội (社会流行语) của Hồ Minh Dương và Trương Bao (1970–1980), Bành Khánh Hoa, Chu Nhất Minh, Vu Tĩnh và Ngô Phỉ.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu tiếng lóng tại Việt Nam trải qua các giai đoạn từ đầu thế kỷ XX:

  • Giai đoạn đầu: Công trình của J. (1905, L'argot anamite trên tập san EFEO) và Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (1925, L'argot anamite de Hanoi).
  • Hai xu hướng đánh giá trong ngôn ngữ học Việt Nam:
    • Xu hướng bài trừ: Nguyễn Văn Tu (1976, Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại), Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Trọng Báu (1982, Tiếng Việt trên đường phát triển) coi tiếng lóng là hiện tượng không lành mạnh, không làm giàu cho ngôn ngữ toàn dân và cần loại bỏ khỏi ngôn ngữ văn hóa.
    • Xu hướng thừa nhận tính hai mặt và giá trị biểu đạt: Trịnh Ngọc Liễn và Trần Văn Chánh (1979); Nguyễn Thiện Giáp (1998, Từ vựng học tiếng Việt) phân biệt lóng thô tục đáng lên án với lóng có hình ảnh có khả năng thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân; Nguyễn Văn Khang (2002, Tiếng lóng tiếng Việt; 2012, Ngôn ngữ học xã hội) nhìn nhận tiếng lóng là biến thể đặc thù của ngôn ngữ học xã hội và phân tích các phương thức tạo từ ngữ lóng.
  • Các công trình liên quan đến biến thể và uyển ngữ: Luận án, luận văn của Bùi Thị Ngọc Anh (2013), Nguyễn Thị Lan Hinh (2004), Đinh Trọng Lạc (1999), Lý Lăng (2011), Hà Hội Tiên (2009), Trương Viên (2003), Trần Thị Vân Yên (2009), Đỗ Thùy Trang (2018).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình đi trước chủ yếu xem xét tiếng lóng đơn ngữ (trong nội bộ tiếng Hán hoặc tiếng Việt) hoặc tiếp cận thuần túy từ góc độ từ vựng học hay phong cách học. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu đối chiếu song ngữ Hán - Việt về từ ngữ lóng dựa trên khung lý thuyết của ngôn ngữ học xã hội kết hợp với ngôn ngữ học cấu trúc trên ngữ liệu thực tế của 4 nhóm xã hội đặc thù.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

1. Khung lý thuyết Ngôn ngữ học xã hội

  • Phương ngữ xã hội và biến thể ngôn ngữ: Luận án vận dụng quan điểm của Wardhaugh Ronald (2006) và Nguyễn Văn Khang (2012), xác định đơn vị của ngôn ngữ học xã hội là biến thể (variety). Phương ngữ xã hội hình thành dựa trên các biến xã hội (tuổi tác, giới tính, giai tầng, nghề nghiệp, nhóm xã hội). Tiếng lóng được xác định là phương ngữ xã hội đặc thù mang tính khẩu ngữ và gắn liền với lợi ích, ranh giới của nhóm.
  • Chuẩn mực và biến thể phi chuẩn: Dựa trên quan niệm của Hoàng Tuệ (1980), Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu và 5 thang bậc biến thể của L. Bloomfield (tiêu chuẩn văn học, tiêu chuẩn hội thoại, tiêu chuẩn cấp tỉnh, phi tiêu chuẩn, tiêu chuẩn địa phương). Lệch chuẩn hay phi chuẩn trong tiếng lóng được nhìn nhận như một hiện tượng hành chức phục vụ mục đích giao tiếp riêng biệt thay vì chỉ quy kết đúng - sai.
  • Cộng đồng giao tiếp (Speech community): Khung khái niệm của Bloomfield, Wardhaugh và Nguyễn Văn Khang, xác định cộng đồng giao tiếp là phạm vi giới hạn của biến thể, nơi các thành viên chia sẻ những nguyên tắc xã hội và quy ước ngôn ngữ chung.
  • Lựa chọn ngôn ngữ, chuyển mã và trộn mã: Khung ngôn ngữ ma trận (Matrix Language-Frame) của Myers-Scotton (phân biệt ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng, Giả thuyết ngăn chặn - The Blocking Hypothesis), quan điểm phân biệt chuyển mã (code-switching) và trộn mã (code-mixing) của Fasold Ralph (1990), Poplack Shana (1980) và Nguyễn Văn Khang (2012).
  • Thái độ ngôn ngữ (Language attitude): Mô hình đánh giá của Marko Dragojevic (đo lường theo vị thế và tính đoàn kết) và phân loại của Nguyễn Văn Khang gồm 3 dạng thái độ: Trung thành ngôn ngữ, Tự ti ngôn ngữ và Kỳ thị ngôn ngữ.

2. Khung lý thuyết Từ vựng - Ngữ nghĩa học

  • Khái niệm từ và ngữ: Luận án tiếp thu định nghĩa từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng vận dụng độc lập của Hoàng Bá Vinh – Liêu Tự Đông (đối với tiếng Hán) và Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp (đối với tiếng Việt). Phân biệt hình vị/từ tố và chữ viết; tiếp thu quan niệm phân loại hình vị tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Văn Tu. Khái niệm ngữ và cụm từ tự do, cụm từ cố định của Diệp Quang Ban.
  • Cấu trúc nghĩa của từ: Mô hình tháp nghĩa/tam giác nghĩa của Đỗ Hữu Châu (từ trừu tượng, hình thức, ý nghĩa, sự vật/hiện tượng, tư duy, người dùng, chức năng tín hiệu học) và 4 thành phần nghĩa: nghĩa biểu vật (nghĩa sở chỉ), nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu), nghĩa biểu thái, nghĩa ngữ pháp.
  • Phương thức chuyển nghĩa: Cơ chế ẩn dụ (ẩn dụ hình thức, cách thức, phẩm chất, chuyển đổi cảm giác) và hoán dụ (bộ phận - toàn thể, vật chứa - vật bị chứa, dấu hiệu - sự vật, cụ thể - trừu tượng) theo Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp.
Khung phân tích lý thuyết của luận án:

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp thu thập và xử lý ngữ liệu: Lập danh mục từ ngữ lóng thủ công từ từ điển và báo chí; sử dụng phần mềm phát hiện từ ngữ tự động kết hợp bảng tính Microsoft Excel để quản lý, phân loại, tính toán tần suất và lập các bảng biểu thống kê.
  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Miêu tả chi tiết các đặc điểm cấu tạo hình thức và các tầng bậc ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong hai ngôn ngữ.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu trường từ vựng - ngữ nghĩa giữa tiếng Hán và tiếng Việt nhằm tìm ra nét tương đồng và dị biệt mang tính loại hình và văn hóa.
  • Các thủ pháp chuyên ngành: Thủ pháp phân tích nghĩa tố, phân tích trường nghĩa, phân tích biến thể từ vựng - ngữ pháp và phân tích ngôn cảnh (ngôn cảnh phát ngôn và ngôn cảnh văn hóa).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 dành toàn bộ dung lượng để thiết lập nền tảng lý thuyết và tổng thuật lịch sử nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa tình hình nghiên cứu tiếng lóng trên thế giới (Âu - Mỹ), tại Trung Quốc và tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay; phân định các xu hướng nhìn nhận tiếng lóng trong lịch sử ngôn ngữ học.
  • Xác lập khung lý thuyết ngôn ngữ học xã hội: định nghĩa phương ngữ xã hội; mối quan hệ giữa biến thể chuẩn và phi chuẩn; bản chất của biến xã hội và biến ngôn ngữ; ranh giới mờ của cộng đồng giao tiếp; các cơ chế lựa chọn mã, chuyển mã, trộn mã theo mô hình ma trận; các biểu hiện của thái độ ngôn ngữ.
  • Xác lập khung lý thuyết từ vựng học cấu trúc: chuẩn hóa quan niệm về từ, ngữ, từ tố, hình vị trong tiếng Hán và tiếng Việt; mô tả các phương thức cấu tạo từ đơn, từ ghép, từ láy; phân tích cấu trúc nghĩa của từ và các quy luật chuyển nghĩa thông qua ẩn dụ và hoán dụ; làm rõ sự mở rộng nội hàm và ngoại diên của thuật ngữ "tiếng lóng" trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Chương 2. Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ lóng (từ tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)

Chương 2 tập trung khảo sát, thống kê và phân tích cấu trúc hình thức của 1.472 đơn vị tiếng Hán và 1.472 đơn vị tiếng Việt:

  • Đặc điểm cấu tạo từ ngữ lóng tiếng Hán:
    • Khảo sát số lượng thành tố cấu tạo trong từ ngữ lóng tiếng Hán; phân loại theo đơn vị từ vựng (từ lóng và ngữ lóng).
    • Phân tích từ lóng tiếng Hán theo từ loại (danh từ, động từ, tính từ...) và phân bố giữa các nhóm xã hội.
    • Phân tích từ lóng đơn tiết xét theo nguồn gốc và từ loại; phân tích từ lóng đa tiết/từ phức theo nguồn gốc (từ thuần Hán, từ mượn, từ biến âm).
    • Phân loại các mô hình cấu tạo của ngữ lóng tiếng Hán theo 4 nhóm xã hội (trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu).
  • Đặc điểm cấu tạo từ ngữ lóng tiếng Việt:
    • Thống kê và miêu tả từ ngữ lóng tiếng Việt theo số lượng thành tố cấu tạo và cấu trúc hình vị/tiếng.
    • Phân loại từ lóng tiếng Việt theo đơn vị từ vựng, từ loại và sự phân bổ theo 4 nhóm xã hội khảo sát.
    • Khảo sát từ lóng đơn tiết tiếng Việt theo nguồn gốc và từ loại; khảo sát từ phức (ghép đẳng lập, ghép chính phụ, từ láy) và phương thức tạo ngữ lóng trong từng nhóm xã hội.
  • Tiểu kết đối chiếu cấu tạo: Tổng hợp các bảng số liệu đối chiếu cấu tạo từ ngữ lóng giữa hai ngôn ngữ; chỉ ra sự tương đồng về xu hướng sử dụng từ ghép chính phụ, cụm từ hóa và sự khác biệt do đặc trưng loại hình ngữ âm - chữ viết quy định.

Chương 3. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng (từ tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)

Chương 3 đi sâu vào phân tích nội dung ngữ nghĩa và cơ chế định danh của từ ngữ lóng trong hai ngôn ngữ:

  • Đặc điểm chung về ngữ nghĩa: Phân tích tính biểu cảm cao, tính hình tượng, tính đa nghĩa, sự lâm thời về nghĩa và xu hướng mờ hóa tính bí mật của từ ngữ lóng trong giao tiếp xã hội.
  • Đặc điểm ngữ nghĩa cụ thể theo 4 nhóm xã hội:
    • Nhóm trộm cướp: Phân tích các trường nghĩa chỉ hành vi trộm cắp, công cụ gây án, đối tượng bị cướp, công an/cảnh sát, địa bàn hoạt động.
    • Nhóm ma túy: Phân tích các trường nghĩa chỉ các loại ma túy, chất gây nghiện, dụng cụ sử dụng, hành vi mua bán, trạng thái phê thuốc/nghiện ngập.
    • Nhóm mại dâm: Phân tích các trường nghĩa chỉ đối tượng bán dâm, mua dâm, môi giới (dắt mối), hành vi mua bán dâm, địa điểm hoạt động.
    • Nhóm buôn lậu: Phân tích các trường nghĩa chỉ hàng hóa lậu, phương tiện vận chuyển, hành vi qua mặt cơ quan chức năng, tiền tệ và đường dây buôn lậu.
  • Phân loại ngữ nghĩa học: Hệ thống hóa và phân loại toàn bộ 1.472 từ ngữ lóng tiếng Hán và 1.472 từ ngữ lóng tiếng Việt theo các trường từ vựng - ngữ nghĩa; làm sáng tỏ các cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ đặc thù được hai cộng đồng ngôn ngữ sử dụng để mã hóa hiện thực đời sống của từng nhóm xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa toàn diện các thành tựu lý thuyết về tiếng lóng trong ngôn ngữ học xã hội và từ vựng học, góp phần làm sáng tỏ vị trí của tiếng lóng như một phương ngữ xã hội đặc thù trong hệ thống biến thể ngôn ngữ.
  • Xác lập khung phân tích đối chiếu song ngữ về từ ngữ lóng, kết hợp đồng bộ giữa bình diện hình thức cấu tạo (ngữ pháp - từ vựng) và bình diện nội dung ngữ nghĩa (ngữ nghĩa học - ngữ dụng học).
  • Làm sáng tỏ các quy luật tương đồng và khác biệt trong cơ chế định danh lóng, chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ giữa tiếng Hán và tiếng Việt dưới sự chi phối của các nhân tố văn hóa - xã hội tương ứng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp một hệ thống ngữ liệu đối chiếu gồm 2.944 đơn vị từ ngữ lóng thuộc 4 nhóm xã hội (trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu) được phân loại và xử lý theo các tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa.
  • Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở ngôn ngữ học phục vụ việc nhận diện, giải mã các biến thể ngôn ngữ xã hội lệch chuẩn; hỗ trợ công tác thực thi pháp luật và giám định tư pháp liên quan đến ngôn ngữ tội phạm.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đồng thời hỗ trợ công tác giảng dạy, biên dịch và học tập tiếng Hán cũng như tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất cách tiếp cận khách quan, khoa học đối với tiếng lóng: phân định rõ giữa tiếng lóng thô tục cần hạn chế/bài trừ trong văn cảnh chuẩn mực với các yếu tố lóng có tính biểu cảm, sáng tạo có thể bổ sung cho vốn từ toàn dân.
  • Ứng dụng kết quả phân loại ngữ nghĩa vào việc biên soạn từ điển song ngữ Hán - Việt chuyên ngành và từ điển giải thích tiếng lóng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi nhóm xã hội: Do tính phức tạp trong việc nhận diện tiếng lóng, luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở 4 nhóm xã hội mang tính chất tiêu cực/nhóm kín truyền thống (trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu); chưa bao quát được toàn bộ các nhóm xã hội khác như tiếng lóng giới trẻ, tiếng lóng học sinh - sinh viên, tiếng lóng văn phòng hay tiếng lóng không gian mạng (ngôn ngữ mạng).
  • Hạn chế về tính thời điểm của ngữ liệu: Tiếng lóng là một biến thể có tính biến động cao, xuất hiện và tiêu biến nhanh chóng; nguồn ngữ liệu khảo sát từ các từ điển (2002, 2006, 2007) và báo chí tại thời điểm nghiên cứu phản ánh bức tranh ngôn ngữ ở một giai đoạn cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các nhóm xã hội thịnh hành hiện đại (ngôn ngữ mạng xã hội, tiếng lóng công nghệ, tiếng lóng của giới trẻ thế hệ mới).
    • Đi sâu phân tích thái độ ngôn ngữ thực tế của cộng đồng đối với các từ ngữ lóng thông qua các phương pháp điều tra bảng hỏi xã hội học ngôn ngữ học thực địa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ học: Cung cấp khung lý thuyết chi tiết về phương ngữ xã hội, các mô hình cấu tạo và chuyển nghĩa của biến thể phi chuẩn; là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các chuyên đề Ngôn ngữ học xã hội, Từ vựng học tiếng Việt và Ngôn ngữ học đối chiếu.
  • Đối với ngành Trung Quốc học và Giảng dạy tiếng Hán: Cung cấp tư liệu đối chiếu song ngữ Hán - Việt có hệ thống về lớp từ ngữ khẩu ngữ thông tục, giúp người dạy và người học hiểu sâu hơn về cơ chế ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ, tiếng lóng đương đại Trung Quốc.
  • Đối với cơ quan chức năng, báo chí và tư pháp: Hỗ trợ việc nhận diện, giải mã các mật ngữ, ẩn ngữ của các nhóm đối tượng phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm (ma túy, buôn lậu, hình sự).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu đơn vị ngữ liệu và lấy từ những nguồn cụ thể nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 2.944 đơn vị từ ngữ lóng (gồm 1.472 từ ngữ lóng tiếng Việt và 1.472 từ ngữ lóng tiếng Hán). Nguồn tư liệu gồm:

  • Từ điển tiếng Việt: Tiếng lóng tiếng Việt (Nguyễn Văn Khang, 2002).
  • Từ điển tiếng Hán: Tiếng lóng Trung Quốc mới nhất – Đối chiếu Hán – Anh (Lý Thục Quyên, 2006); Đại từ điển tục ngữ, tiếng lóng mới biên soạn (Lục Tĩnh Trinh, 2007).
  • Báo chí & Truyền thông: Báo Công an nhân dân, An ninh thủ đô, An ninh thế giới; phim truyện trên kênh VTV1, VTV3; các trang mạng xã hội như Facebook, Weibo.

2. Vì sao luận án lại giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 4 nhóm xã hội: trộm cướp, ma túy, mại dâm và buôn lậu?

Tác giả giới hạn ở 4 nhóm xã hội này vì việc nhận diện và xác định ranh giới của tiếng lóng trong đời sống ngôn ngữ hiện đại rất phức tạp. Từ ngữ lóng của 4 nhóm xã hội này vốn đã được xác định rõ ràng theo quan niệm truyền thống là ngôn ngữ của các nhóm xã hội kín/nhóm xã hội xấu, mang đầy đủ các đặc trưng nguyên bản của tiếng lóng về tính bí mật, tính nội bộ và tính chức năng.

3. Phương pháp xử lý và thống kê ngữ liệu của luận án được thực hiện như thế nào?

Luận án kết hợp phương pháp thu thập thủ công và phần mềm phát hiện từ ngữ tự động. Tác giả lập danh mục từ ngữ lóng, đọc và phân nhóm thủ công theo các chuyên mục, sau đó sử dụng chương trình bảng tính Microsoft Excel để lưu trữ, tính toán tỷ lệ, phân loại theo từ loại, nguồn gốc, thành tố cấu tạo và hiển thị kết quả thống kê dưới dạng bảng biểu trực quan.

4. Hai xu hướng đánh giá về tiếng lóng trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam được tổng thuật như thế nào?

  • Xu hướng 1 (Bài trừ): Đại diện bởi Nguyễn Văn Tu (1976), Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Trọng Báu (1982), coi tiếng lóng là hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh, không làm giàu cho tiếng Việt và cần loại bỏ khỏi ngôn ngữ văn hóa.
  • Xu hướng 2 (Thừa nhận khách quan): Đại diện bởi Trịnh Ngọc Liễn, Trần Văn Chánh (1979), Nguyễn Thiện Giáp (1998) và Nguyễn Văn Khang (2002), cho rằng bên cạnh mặt tiêu cực, những từ lóng có tính hình tượng cao, không thô tục có khả năng thâm nhập, bổ sung và làm phong phú thêm vốn từ của ngôn ngữ toàn dân.

5. Khung phân tích cấu tạo và ngữ nghĩa của luận án dựa trên các lý thuyết cốt lõi nào?

  • Về cấu tạo: Luận án dựa trên lý thuyết về đơn vị từ, từ tố/hình vị và phương thức tạo từ (đơn, phức, ghép, láy) của Hoàng Bá Vinh – Liêu Tự Đông (tiếng Hán), Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban (tiếng Việt).
  • Về ngữ nghĩa: Luận án vận dụng mô hình tam giác nghĩa của Đỗ Hữu Châu, phân tích 4 thành phần nghĩa và cơ chế chuyển nghĩa thông qua hai phương thức chính là ẩn dụ (hình thức, cách thức, phẩm chất, cảm giác) và hoán dụ (bộ phận - toàn thể, vật chứa - bị chứa, dấu hiệu - sự vật, cụ thể - trừu tượng).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoài Tâm là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về đặc điểm từ ngữ lóng trên tư liệu đối chiếu tiếng Hán và tiếng Việt dưới góc nhìn kết hợp giữa Ngôn ngữ học xã hội và Ngôn ngữ học cấu trúc. Thông qua việc khảo sát định tính và định lượng trên 2.944 đơn vị ngữ liệu thuộc 4 nhóm xã hội đặc thù (trộm cướp, ma túy, mại dâm, buôn lậu), tác giả đã làm sáng tỏ các mô hình cấu tạo hình thức cũng như các cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ trong từng ngôn ngữ. Công trình đã chỉ ra những điểm tương đồng mang tính phổ quát của phương ngữ xã hội và những nét dị biệt bắt nguồn từ đặc trưng loại hình ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho lý luận biến thể ngôn ngữ, công tác từ điển học và giảng dạy đối chiếu Hán - Việt.