CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình hình nghiên cứu Vì tên gọi cây nông nghiệp nói riêng thường được coi như một phần của tên gọi thực vật nói chung, nên để thấy được tình hình nghiên cứu về tên gọi cây nông nghiệp, luận án trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật trên thế giới và tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật và tên gọi cây nông nghiệp ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật trên thế giới Trong ngôn ngữ học hiện đại, việc nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và định danh tên gọi thực vật trong các ngôn ngữ trên thế giới còn ít được nghiên cứu. Với sự hiểu biết hạn chế của mình, chúng tôi trình bày khái quát một số công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài luận án.
Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Tên gọi dân tộc các loài thực vật (dựa trên ngữ liệu tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Cadắc) [152] của G. Uiukbôva bảo vệ năm 1983 tại Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô thuộc loại công trình nghiên cứu đầu tiên. Lựa chọn 523 tên gọi thực vật tiếng Anh, 290 tên gọi thực vật tiếng Nga và 302 tên gọi thực vật tiếng Cadắc làm đối tượng nghiên cứu, luận án đã miêu tả tên gọi thực vật trong ba ngôn ngữ này, xác định được 10 thuộc tính được sử dụng (tác giả gọi là "bộ lí do") để định danh thực vật trong các ngôn ngữ Anh, Nga và Cadắc. Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Trường nghĩa "thực vật" trong tiếng Nga [151] của Said Aliafar bảo vệ năm 1999 tại Trường Đại học Tổng hợp Xanh Pêtecbua đã dựa vào 800 từ là tên gọi thực vật trong tiếng Nga được định nghĩa trong Từ điển 8 tiếng Nga của S.
Svedova để nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của các từ tên gọi thực vật trong tiếng Nga và cách giải thích nghĩa từ vựng của chúng trong từ điển. Luận án cũng tìm hiểu đặc điểm định danh tên gọi các loại cây và hoa trong tiếng Nga. Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Các phương thức định danh thực vật trong tiếng Nanai [147] của L. Zacsor bảo vệ năm 2005 tại Xanh Pêtecbua đã dựa vào 1171 tên gọi thực vật trong tiếng Nanai để miêu tả nguồn gốc hình thành và đặc điểm phát triển lịch sử tên gọi thực vật trong tiếng Nanai.
Luận án cũng đã nghiên cứu phương thức phụ tố trong định danh thực vật, tìm hiểu đặc điểm cấu tạo tên gọi thực vật và đặc điểm định danh thực vật bằng các phương tiện hình thái, từ vựng - ngữ nghĩa và cú pháp trong trong ngôn ngữ Nanai. Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Tên gọi các loài thực vật ngoại lai trong tiếng Anh và tiếng Nga: Các bình diện cấu trúc - cấu tạo từ và mô típ định danh [146] của A. Berestneva, bảo vệ năm 2008 tại Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Gomen (Bêlarus).000 tên gọi tiếng Nga và hơn 2.500 tên gọi tiếng Anh các loài thực vật ngoại lai, luận án đã phân tích cấu trúc - cấu tạo từ tên gọi các loài thực vật ngoại lai tiếng Anh và tiếng Nga, xác định các nguyên tắc, dấu hiệu định danh thực vật ngoại lai trong hai ngôn ngữ và xác định các loại dấu hiệu được dùng để định danh các loài thực vật ngoại lai. Từ đó, luận án tiến hành đối chiếu các dấu hiệu ngữ nghĩa có trong tên gọi các loài thực vật ngoại lai trong hai ngôn ngữ để làm sáng rõ những nguyên tắc định danh mang tính phổ quát và dân tộc.
Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Tên gọi các loài dược thảo trong các ngôn ngữ có cấu trúc khác nhau (dựa trên ngữ liệu tiếng Nga, tiếng Maria, tiếng Đức và tiếng Latinh [150] của O. Rubxôva bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Maria. Đối tượng nghiên cứu là tên gọi các loài dược thảo trong tiếng Nga, tiếng Maria, tiếng Đức và tiếng Latin, gồm 4.000 tên gọi các loài dược thảo, phân tích 3003 tên gọi, trong đó có 70 tên gọi Latinh, 1953 tên dược thảo tiếng 9 Nga, 383 tên dược thảo tiếng Maria và 597 tên dược thảo tiếng Đức. Luận án đã nghiên cứu những nguyên tắc cơ bản được dùng để định danh các loài dược thảo trong các ngôn ngữ này; xác định những đặc trưng làm cơ sở định danh và những nguyên tắc định danh các loài dược thảo.
Trên cơ sở đó, luận án đã phân loại và so sánh tên gọi các loài dược thảo được thể hiện trong bốn ngôn ngữ này. Tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật ở Việt Nam Trong vốn từ vựng tiếng Việt, tên gọi các loài thực vật nói chung, tên gọi các loại cây nông nghiệp nói riêng được coi là một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa. Đặc điểm sinh học của các loài thực vật ở nước ta đã được nghiên cứu chuyên sâu từ phương diện thực vật học, sinh học, nông học. Còn về phương diện ngôn ngữ học, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tên gọi thực vật nói chung, tên gọi cây nông nghiệp nói riêng.
Vân đài loại ngữ [29] của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí [19] của Phan Huy Chú có thể xem là những sách có tính bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam đề cập đến nghề nông và sử dụng nước. Gần đây một số chuyên khảo về nghề trồng lúa, một số quyển từ điển bách khoa chuyên ngành về nông nghiệp, về cây thuốc Việt Nam đã được biên soạn: Từ điển Bách khoa nông nghiệp [115], Từ điển Bách khoa nông nghiệp Việt Nam [23], Từ điển cây thuốc Việt Nam (bộ mới), 2 tập [17], Văn minh lúa nước và nghề trồng lúa Việt Nam [27]. Trong Việt ngữ học hiện đại, với tư cách là một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa, tên gọi các loài thực vật nói chung, tên gọi cây nông nghiệp nói riêng trong tiếng Việt được nghiên cứu theo ba hướng: nghiên cứu từ cách tiếp cận từ vựng học truyền thống; nghiên cứu theo hướng phong cách học và nghiên cứu theo hướng của ngôn ngữ học tri nhận. Nghiên cứu nhóm từ tên gọi thực vật theo truyền thống Theo hướng nghiên cứu này có thể nêu ra một số bài viết, luận văn sau: Luận văn tốt nghiệp đại học của Cao Thị Thu Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa trường từ vựng tên gọi thực vật trong tiếng Việt [106] bảo vệ năm 1995 tại 10 Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Dựa vào lời giải thích trong định nghĩa từ điển giải thích tiếng Việt của 657 từ ngữ chỉ thực vật, tác giả luận văn sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân giải lời giải thích thành các nghĩa vị khu biệt phản ánh những đặc trưng cơ bản của thực vật được biểu thị. Tác giả đã xác định được 14 nghĩa vị khu biệt xuất hiện trong lời giải thích tên gọi thực vật: tên chỉ loại; đặc điểm hình thức/cấu tạo; đặc điểm kích cỡ; vai trò trong đời sống; đặc điểm màu sắc; đặc điểm vị trí, quan hệ trong phân loại sinh vật học; vai trò trong y học; môi trường sống; đặc điểm vị; đặc điểm mùi; đặc điểm thuần dưỡng; đặc điểm thời gian; đặc điểm tập tính sinh sống. Trên cơ sở đó tác giả tìm hiểu quá trình chuyển nghĩa và những ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt. Luận văn thạc sĩ của Trần Hạnh Nguyên Trường trường từ vựng - ngữ nghĩa thực vật trong kho tàng ca dao người Việt [76] bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị biểu trưng của tên các loài thực vật cùng những bộ phận cơ bản của chúng (hoa, quả) xuất hiện trong kho tàng ca dao Việt Nam.
Khảo sát 11825 lời ca trong Kho tàng ca dao người Việt, tác giả luận văn xác định được có 2875 lời ca về trường nghĩa thực vật, chiếm 24% và thống kê được 325 loại thực vật chỉ cây (tùng, cúc, trúc, mai, tre, lúa, cây đa, rau cải, rau muống, rau răm,…). Có 2226 từ nói về cây và rau (chiếm 49%): cây đào, cây liễu, cây trúc, cây tre, cây đa, cây lúa, cây bèo, cỏ, rau muống, rau cải, rau răm, rau má, rau húng, gừng,.Dựa vào kết quả thống kê, phân loại nêu trên tác giả tiến hành khảo sát, phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, sự chuyển trường của các từ ngữ chỉ tên thực vật trong ca dao, tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của các từ thuộc trường nghĩa thực vật trong kho tàng ca dao người Việt. Luận án Từ ngữ chỉ động thực vật trong tiếng Việt và tiếng Anh [118] của Nguyễn Thanh Tùng đã so sánh từ chỉ thực vật tiếng Việt và tiếng Anh trong từ điển giải thích, trong thành ngữ và tục ngữ dựa trên cơ sở phân loại từ chỉ thực 11 vật dùng theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của hai dân tộc Việt và Anh với hai loại hình ngôn ngữ và văn hóa khác biệt nhau.
Hồ Văn Tuyên (2005) trong Đặc điểm định danh từ vựng trong phương ngữ Nam Bộ [119], tác giả có đề cập đến cách định danh thực vật ở Nam Bộ xét về mặt cấu tạo, phương thức biểu thị và ngữ nghĩa. Qua cách định danh này, tác giả cho ta thấy rõ nét văn hóa rất đặc trưng trong tư duy của người Việt nói chung và người Nam Bộ nói riêng. Luận văn thạc sĩ của Lê Hồng Nhiên Từ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ) [77], bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã thu thập được 391 từ chỉ thực vật có tên gọi khác nhau trong các phương ngữ của tiếng Việt qua khảo sát các từ điển thường dùng và điền dã.
Tác giả công trình này đã phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo từ (từ đơn, từ ghép, từ láy), các mô hình cấu tạo từ ghép là các loài thực vật có tên gọi khác nhau trong các phương ngữ tiếng Việt. Luận văn đã đối chiếu từ chỉ thực vật giữa các phương ngữ xét về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa để làm rõ cách tri nhận, tìm hiểu các yếu tố văn hóa, địa lí có ảnh hưởng đến quy luật định danh tên gọi thực vật trong từng phương ngữ nói riêng và trong tiếng Việt nói chung.