Chương 1, chúng tôi sẽ lí giải những nguyên nhân, biểu hiện, đặc điểm của sự tương đồng và khác biệt giữa tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc. Cũng như Chương 2, cách trình bày ở Chương này với mục đích tránh sự trùng lắp trong nội dung trình bày vì kiến thức cơ sở có liên quan đến sự khác biệt hay tương đồng giữa hai nước về cơ bản là giống nhau cho dù xét theo phương diện nội dung hay nghệ thuật. Kết thúc Chương 3, luận văn hy vọng cung cấp cho người đọc những kiến thức mà chúng tôi tìm hiểu được về sự khác biệt và tương đồng giữa tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc xét ở phương diện nghệ thuật, cùng với sự lí giải về sự tương đồng và khác biệt đó. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ-XÃ HỘI–VĂN HOÁ VÀ TỤC NGỮ VIỆT NAM, HÀN QUỐC 1.
Tổng quan về lịch sử - xã hội – văn hoá Việt Nam và Hàn Quốc 1. Tổng quan về lịch sử - xã hội – văn hoá Việt Nam 1.1 Tổng quan về lịch sử Việt Nam Lịch sử Việt Nam được hình thành từ hơn bốn nghìn năm trước đây, nhân dân Việt Nam đã cùng nhau trải qua nhiều thời kì xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Từ thời kì Hồng Bàng sơ khai đến nhà nước Văn Lang, Âu Lạc phồn vinh, sau đó, bị chiếm đóng bởi quân phương Bắc (Trung Quốc) từ năm 207 trước công nguyên đến thế kỉ X sau công nguyên. Thế kỉ thứ X - năm 938, Việt Nam giành độc lập chủ quyền sau trận thắng vang dội của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra kỉ nguyên độc lập mới cho dân tộc.
Bắt đầu từ thế kỉ thứ X, đất nước Đại Việt được xây dựng và phát triển trải qua các triều đại phong kiến như Đinh, Lí, Trần, Lê với các vị vua anh minh như Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trần Thánh Tông….Các triều đại này đã đóng góp nhiều công sức cho sự phát triển của Đại Việt, xây dựng đất nước độc lập, kỉ cương. Giữa thế kỉ XIX - năm 1858, thực dân Pháp tiến hành đánh chiếm và xâm lược Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống quân xâm lược Pháp được dẫn dắt bởi lãnh tụ Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Tháng 8/1954 Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết chia Việt Nam thành hai miền tại vĩ tuyến thứ 17.
Trong đó, miền Nam Việt Nam – vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, miền Bắc – do Việt Nam dân chủ cộng hoà đứng đầu. Tháng 9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đặt thủ đô tại Hà Nội. Miền Bắc Việt Nam bắt đầu xây dựng đất nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa và miền Nam vẫn phải chống lại lực lượng quân đội của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. 12 Tháng 4/1975 chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi to lớn tại miền Nam, hai miền Nam, Bắc Việt Nam được thống nhất.
Tháng 7/1976 Việt Nam đổi tên nước thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thủ đô tại thành phố Hà Nội, đất nước bước vào giai đoạn khắc phục hậu quả sau chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước.2 Tổng quan về xã hội Việt Nam Về địa lý, địa hình Đất nước Việt Nam là một bán đảo thuộc khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương, có hình dạng như chữ S với ba mặt giáp biển gồm đông, nam và tây nam, phía tây giáp Cam-pu-chia và Lào, phía bắc giáp với Trung Quốc. Lãnh thổ Việt Nam có hình dáng nhỏ, dài, diện tích đất nước hơn 331.000km2 bao gồm đất liền và biển đảo. Trong đó đồng bằng chiếm khoảng 30% được phân bố đều khắp cả nước, vùng đồi núi khoảng 70% phân bố tập trung hơn chủ yếu là các khu vực giáp biên giới.000 hòn đảo và bãi đá ngầm lớn nhỏ khác nhau như Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc, Côn đảo, Vịnh Hạ Long. Việt Nam có hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt với hai con sông lớn ở hai miền Nam Bắc là sông Hồng ở miền Bắc và sông Cửu Long ở miền Nam.
Ngoài ra còn có rất nhiều con sông lớn khác cung cấp thuỷ lượng dồi dào như sông Đà, sông Mã, sông Lam, sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu, sông Thao, sông Thái Bình, sông Cầu, sông Lô. Hình thái sông được phân bố rộng khắp với chiều dài và khu vực rộng lớn ảnh hưởng không ít đến nghề nghiệp và tư tưởng Nhất nông nhì sĩ của người Việt Nam trước đây. Về con người Do đặc điểm về vị trí địa lí, địa hình nên tri thức của người Việt về hệ thực vật rất phong phú, nền nông nghiệp lúa nước ra đời sớm, người Việt từ xa xưa đã biết trồng lúa nước nên tính thuần nông nghiệp lúa nước trong văn hóa, văn học Việt vì vậy rất rõ nét. 13 Về khí hậu thời tiết Việt Nam có hai vùng khí hậu lớn: miền Bắc là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với các mùa rõ rệt trong năm, còn phía Nam vì sự ngăn cách của địa hình núi non nên ít bị ảnh hưởng bởi khí hậu gió mùa nhiệt đới, phía Nam chỉ có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng.
Riêng đối với các vùng núi cao thì có khí hậu ôn đới hoặc khí hậu lục địa. Khí hậu thay đổi theo mùa và không thuần nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Giữa các miền có khí hậu khác nhau rõ rệt theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ Bắc vào Nam và từ Đông sang Tây. Điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến sự khác biệt về văn hoá, phong tục tập quán của các vùng miền.
Tại Việt Nam nhiệt độ có sự thay đổi theo hướng tăng dần từ miền Bắc vào miền Nam, dao động từ 21 độ đến 27 độ. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1. Độ ẩm không khí trên dưới 80%.3 Tổng quan về văn hoá Việt Nam Về văn hóa tinh thần Tư tưởng người Việt Nam trong giai đoạn nguyên thuỷ sơ khai mang màu sắc tín ngưỡng tự nhiên với các vị thần trong thiên nhiên như thần sông, thần sấm thần sét, thần núi, thần biển, … Về sau trong giai đoạn nhà nước phong kiến hay trong thời kì chịu ảnh hưởng, tư tưởng người Việt có sự hoà trộn giữa các đạo giáo như Phật giáo, Nho giáo, Lão – Trang. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thu Lương trong Đặc trưng văn hoá Việt Nam Hàn Quốc – Tương đồng và khác biệt, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tác giả cho rằng ở góc độ văn hóa tinh thần bao gồm các phạm vi nhận thức về vũ trụ quan, thế giới quan và nhân sinh quan, về tín ngưỡng và tôn giáo của văn hóa tinh thần của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc do quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa trong lịch sử thời kì dựng nước và giữ nước.
14 Về văn hóa ứng xử Người Việt Nam do sống trong không gian làng xã, tính chất cộng đồng cao, nên trong cách ứng xử quan hệ giao tiếp của con người mang đậm tính dân chủ làng xã theo tính chất cộng đồng, bình đẳng, bình quân và dân chủ kiểu công xã. Sự phân hóa giai cấp giàu nghèo là đương nhiên nhưng không quá khắt khe, không bị qui định bởi nhiều lễ nghi nghiêm ngặt, tuân thủ tôn ty chặt chẽ như xã hội truyền thống Hàn Quốc. Về chữ viết Theo truyền thuyết và dã sử, từ thời xa xưa, người Việt cổ đã có chữ viết riêng. Tuy nhiên do nhiều lí do đến nay chúng ta chưa tìm thấy dấu tích rõ ràng của chữ viết ấy.
Cùng với sự du nhập và truyền bá ngôn ngữ - văn tự Hán, chữ Nôm đã xuất hiện. Chữ Nôm là hệ thống chữ viết ghi âm, dùng chữ Hán hoặc bộ phận chữ Hán được cấu tạo lại để ghi tiến Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết, trên cơ sở cách đọc chữ Hán của người Việt, còn gọi là chữ Hán Việt. Vào nửa đầu thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đã dựa vào bộ chữ cái La-tinh để xây dựng một thứ chữ mới ghi âm tiếng Việt, nhằm phục vụ cho việc truyền giảng đạo Thiên Chúa, sau này được gọi là chữ Quốc ngữ. Trong quá trình phát triển, chữ quốc ngữ dần được cải tiến và đạt tới hình thức ổn định và hoàn thiện như ngày nay.
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, trong đó cá từ chỉ gồm một hình vị đơn nhất có nghĩa, không có biến cách, phụ tố phát sinh, chỉ cần học thuộc bảng chữ cái và cách ghép vần là có thể đọc được tất cả mọi chữ trong tiếng Việt. Tổng quan về lịch sử - xã hội – văn hoá Hàn Quốc 1.1 Tổng quan về lịch sử Hàn Quốc Triều Tiên là quốc gia có bề dày lịch sử kéo dài khoảng 5.000 năm, bắt đầu từ cuối thời kì đồ đồng với vương triều Choson cổ đại ở khu vực phía bắc quốc gia, tiếp giáp với Trung Quốc. Thời kì này ngoài vương triều Ko - Choson 15 (Choson cổ) là hùng mạnh nhất còn có các vương triều khác cùng tồn tại song song gồm Puyo, Imdun, Chinbon và Chin. Cuối thế kỉ IV trước công nguyên nhà Hán tiến hành xâm lược bán đảo Triều Tiên và thôn tính thành công vương triều Ko-Choson dẫn đến sự diệt vong của quốc gia cổ đại này.
Vào khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên, thời kỳ tam quốc ở Triều Tiên bắt đầu với ba quốc gia có sự phát triển cạnh tranh vượt bậc gồm vương quốc Goguryeo ở phía Bắc Triều Tiên sau này dời về phía nam lấy Bình Nhưỡng làm thủ đô; vương quốc Paekche ở khu vực phía Nam và vương quốc Shilla ở phía Đông bán đảo. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữa các vương quốc, có sự can thiệp của nhà Đường (Trung Quốc). Đến thế kỷ thứ VII sau công nguyên, vương quốc Shilla đã đẩy lùi Trung Quốc ra khỏi bán đảo Triều Tiên, đem lại nền độc lập dân tộc cho quốc gia, thống nhất đất nước. Tuy nhiên đến thế kỷ IX sau công nguyên, bán đảo Triều Tiên trở lại cục diện tam quốc như trước đó gồm ba nước hậu Goguryeo, hậu Paekche và Shilla.
Sau này, nhà nước Hậu Goguryeo thống nhất hai nước hậu Paekche và Shilla, đổi tên nước thành Koryo (ngày nay gọi là Korea). Thế kỷ XIII, nhà nước Koryo sau nhiều lần chống lại sự xâm lược của quân Mông Cổ đã thiết lập hoà ước và trở thành đất nước phụ thuộc vào đế chế Mông Cổ.