Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH TÂM LINH 1. Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh 1. Một số vấn đề lý luận về văn hóa tâm linh 1. Văn hóa Quan niệm cho rằng, văn hóa là một loại quan hệ đặc thù riêng có của con người.
Đó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong ý thức con người với thế giới hiện thực. Từ quan niệm này, Nhà nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định: Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác. Xem xét văn hóa trong mối quan hệ với con người, với nhu cầu và mục đích sống của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn ở và phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Trong định nghĩa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến "sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt" và "biểu hiện của nó", tức đã đề cập đến cả hoạt động sống của con người và những thành tựu do hoạt động đó tạo ra. Nhưng dù là "hoạt động" hay "thành tựu" thì đều phải đáp ứng "những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" mới được gọi là văn hóa. Hơn nữa, khi nhìn nhận văn hóa theo nghĩa rộng, Người đã xem văn hóa là thế giới giá trị, tức là tất cả những gì của con người, do con người và vì con người.
Dựa trên quan niệm giá trị, GS. Trần Ngọc Thêm cho rằng: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. 6 Tất nhiên, ở đây giá trị cần được hiểu không chỉ là một loại "thước đo" hoàn toàn mang tính chủ quan. Giá trị được nhận thức là thuộc tính của sự vật có ích cho con người khi quan hệ với con người.
Giá trị được quyết định bởi cấu trúc, tính chất và công năng của bản thân sự vật nhưng chỉ phát lộ trong quan hệ với con người. Do đó, giá trị không hoàn toàn mang tính chủ quan mà có cả mặt khách quan và mặt chủ quan. Giáo sư Nguyễn Văn Huyên còn nhấn mạnh: "Tất nhiên, toàn bộ giá trị ở đây là những sản phẩm có ích, thoả mãn nhu cầu nhân sinh, đáp ứng sự phát triển - tiến bộ của xã hội. Bởi những sản phẩm do con người sáng tạo ra không những không đáp ứng nhu cầu tiến bộ, mà còn phản tiến bộ, đó là sản phẩm phản văn hóa." Như vậy, việc xem văn hóa là giá trị vật chất và tinh thần kết tinh năng lực bản chất của con người khắc phục được quan niệm đối lập tuyệt đối giữa xã hội với tự nhiên và quan niệm đồng nhất giữa văn hóa với xã hội.
Đồng thời, nó bao hàm ý nghĩa rằng, văn hóa không phải là cái tồn tại một cách cô lập với con người mà luôn trong mối quan hệ hữu cơ với con người, do con người sáng tạo ra và đến lượt nó lại có tác dụng hoàn thiện, hoàn mỹ con người – xã hội. Tâm linh Trước đây, nói đến tâm linh là người ta nghĩ ngay đến tín ngưỡng và tôn giáo, và đồng nhất nó với tín ngưỡng và tôn giáo. Thực ra, khái niệm tâm linh vừa hẹp hơn nhưng lại vừa rộng hơn khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo. Hẹp hơn vì ở tín ngưỡng, tôn giáo ngoài phần tâm linh ra còn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tôn giáo.
Bởi đó vừa là một lĩnh vực của đời sống tinh thần, vừa là một thiết chế xã hội, mà đã là thiết chế xã hội thì không tránh khỏi sự thế tục hóa, sự tha hóa do việc lợi dụng của giai cấp thống trị. Rộng hơn vì tâm linh gắn liền với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao cả, cái siêu việt. không chỉ có ở đời sống tôn giáo, mà còn có cả ở đời sống tinh thần, đời sống xã hội. Không chỉ có ở Thượng đế, có Chúa trời, Thần, Phật mới thiêng liêng mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý cũng thiêng liêng không kém.
Có như vậy, con người mới đạt đến chiều cao của con người. Vì nếu những cái đó bị giải thiêng thì con người không biết lấy cái gì để khu biệt mình với động vật. Mặc dù không được nhận biết, không được nghiên cứu và bị hiểu lầm, nhưng 7 tâm linh vẫn tồn tại trong và cùng với con người như là một chiều kích, thậm chí là chiều kích quan trọng nhất của con người. Đó là một giá trị cơ bản bao trùm và vĩnh cửu của đời sống con người.
Tuy nhiên, trong xã hội cổ truyền trước đây việc nghiên cứu tâm linh không được đặt ra một cách cấp thiết. Chỉ khi con người bước vào thời đại công nghiệp cơ khí đại quy mô, duy lý cực đoan và duy khoa học thực nghiệm, nhất là từ thế kỷ XX thì vấn đề tâm linh mới trở thành một tiếng gọi. Bởi lẽ, con người càng chiếm lĩnh mạnh mẽ và có hiệu quả thế giới bên ngoài, thiết lập nên một nền văn minh vật chất phong phú bao nhiêu, thì đời sống bên trong, đời sống nội tâm của nó càng nghèo đi bấy nhiêu. Con người đang tự đánh mất mình.
Không coi nhẹ ý nghĩa của những hoạt động "bên ngoài", nhưng việc giảm sút hoặc mất đi những hoạt động "bên trong", nhất là những hoạt động của đời sống tâm linh, là điều tệ hại nhất đối với sự tồn tại người. Vấn đề đặt ra là phải lập lại sự cân bằng của hai hoạt động ấy, hai "đời sống" ấy. Như vậy, cái tâm linh không nằm ngoài phạm vi nghiên cứu khoa học mà còn là đối tượng của khoa học. Và không chỉ có nghiên cứu về nó, người ta còn có thể đề ra những phương pháp phát triển tâm linh của con người bằng những thể nghiệm, những thực nghiệm về nó.
Từ đây chí ít ở lĩnh vực đời sống tâm linh, tôn giáo và khoa học không còn loại trừ nhau như nước với lửa nữa, mà có thể gần gũi nhau, thúc đẩy nhau làm phong phú lẫn nhau nhằm đưa con người đến một sự phát triển hài hòa ở tất cả các mặt sinh học – xã hội – tâm lý – tâm linh. Trong Từ điển Tiếng Việt, tâm linh được giải thích theo hai nghĩa: "1. Khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm. Tâm hồn, tinh thần, thế giới tâm linh." Thuật ngữ tâm linh có hai từ tiếng Anh tương đương là spiritualism và psychic.
Spiritualism mang hai nghĩa: thứ nhất là niềm tin tôn giáo – triết học về sự tồn tại sau cái chết; thứ hai là tâm trí, tâm hồn, tinh thần (nghĩa này ít dùng). Còn psychic lại được hiểu theo nghĩa hiện tượng dị thường, huyền bí. Trong cuốn "Tâm linh Việt Nam", Nguyễn Duy Hinh quan niệm: Tâm linh là thể nghiệm của con người (Tâm) về cái Thiêng (linh) trong Tự nhiên và Xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền logíc không phân biệt thiện ác. 8 Tác giả giải thích tâm linh là một khát vọng trí tuệ của con người.
Trong quá trình tồn tại, con người không bằng lòng khai thác tự nhiên hái quả săn mồi. sinh con đẻ cái như mọi động vật khác. Con người luôn có khát vọng tìm hiểu và lý giải tự nhiên (trời, đất, nước, muôn loài.) và bản thân con người để cải thiện cuộc sống của họ. Đó là khác biệt cơ bản giữa con người và động vật.
Qua trải nghiệm cụ thể, lâu dài mỗi dân tộc có một tâm linh riêng biệt đặc sắc song cũng đều quy vào giải thích về trời đất và con người. Giải thích về sức mạnh vô hình tác động đến cái Sống của con người. Mạnh và vô hình nên gọi là Thiêng. Một số hiện tượng tâm linh thành tín ngưỡng hoặc có thờ cúng hoặc không thờ cúng.
Đó là tâm linh tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, cúng hồn lúa. Còn tâm linh phát triển thành tâm linh tôn giáo thì người ta tin theo tâm linh của một giáo Chủ nào đó truyền dạy có trình độ lôgíc nhất định cao hơn tâm linh tín ngưỡng. Nhưng dù vậy mỗi cộng đồng người tiếp thu tâm linh giáo Chủ nào đó đều ít nhiều thông qua tâm linh tín ngưỡng của mình. Từ quan niệm trên cho thấy, tâm linh chỉ tồn tại ở con người và là kết quả trải nghiệm của họ trong quá trình sống ở mỗi môi trường nhất định.
Từ đó hình thành nên tâm linh riêng biệt của mỗi dân tộc. Tâm linh không phải là tín ngưỡng tôn giáo mà tâm linh chứa đựng chúng. Tín ngưỡng tôn giáo chỉ có thể tồn lại trong môi trường tâm linh ở đó con người có niềm tin vào những đối tượng thiêng như thánh thần, Phật, Chúa. Một quan niệm khác về tâm linh của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn "Văn hóa tâm linh": Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo.
Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm. Như vậy, tâm linh là cái tồn tại trong mỗi con người. Nó thể hiện qua niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng hay tôn giáo của mỗi người. Và cụ thể hơn chính là sự ngưỡng vọng của họ về những biểu tượng, hình ảnh thiêng liêng,.
Văn hóa tâm linh * Khái niệm Những khái niệm văn hóa ở trên chưa trực tiếp nhắc tới chữ tâm linh nhưng đã 9 có những chữ tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, những chữ này đều gắn với niềm tin thiêng liêng. Vì vậy, khi nói đến văn hóa tâm linh, nội dung quan trọng phải đề cập đến là niềm tin, là cái thiêng liêng cao cả.