CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về du lịch cộng đồng 1. Cộng đồng Cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch, họ là đầu mối cung cấp những cơ sở hạ tầng như chỗ ở, các dịch vụ ăn uống, thông tin, vận tải và các dịch vụ khác. Thuật ngữ “cộng đồng” được đề cập từ thế kỷ 19, đến nay đã có nhiều học giả quan tâm nghiên cứu như như: Hillery, G, 1955; Keith và Ary (1998); Ivanovic (2009)… các nghiên cứu thường xoay quanh ba vấn đề sau: Thứ nhất, nhiều nghiên cứu đưa ra quan điểm về cộng đồng thường gắn với một khu vực địa lý cụ thể, theo đó, một cộng đồng có thể được xác định và mô tả trên bản đồ địa lý, có tên gọi, biên giới, cột mốc và những nét văn hóa, phong tục tập quán của mình (Ivanovic, 2009).
Hillery (1955) đã chỉ ra, có ít nhất chín mươi bốn định nghĩa khác nhau về cộng đồng, tuy nhiên, theo quan điểm của ông thì cộng đồng bao gồm những người có liên quan đến xã hội và văn hóa trong một khu vực địa lý và có một hoặc nhiều mối quan hệ chung. Keith và Ary (1998) (trích trong Võ Quế, 2006, tr.6) cho rằng “cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng một khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm. Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hay hôn nhân, và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị”. Thứ hai, một số nghiên cứu đề cập đến quan điểm về cộng đồng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau (không xác định về mặt địa lý) nhưng có chung các đặc điểm hoặc sở thích (cộng đồng chức năng).
Theo quan điểm này, cộng đồng có thể được hiểu là một mạng lưới những mối quan hệ hiện có hoặc tiềm năng của các cá nhân, nhóm và tổ chức chia sẻ hoặc có khả năng chia sẻ những mục tiêu và mối quan tâm chung (Bush, R. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000) đã chỉ ra cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu và tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên. Thứ ba, cộng đồng ảo, xuất hiện cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông hiện đại trong những thập kỷ gần đây, quan niệm về cộng đồng đã vượt qua giới hạn thời gian, không gian và địa lý. Cộng đồng ảo được hiểu là những nhóm người có cùng mối quan tâm chung, tương tác với nhau thông qua hệ thống các trang website, mạng xã hội bằng cách sử dụng máy tính và công nghệ kỹ thuật số hiện đại, liên kết chung với các ranh giới địa lý nhất định hoặc liên kết của các dân tộc (Howard Rheingold, 1993).
Tuy nhiên, để cộng đồng ảo được coi là một cộng đồng thì chúng luan an 9 cũng phải đáp ứng một số điều kiện sau: (1) Cộng đồng ảo bao gồm một nhóm người; (2) Cùng chia sẻ những sở thích; (3) Tương tác được đặc trưng bởi tính liên tục và tốc độ phản ứng; (4) Phải có phương tiện và không gian để giao tiếp; Tại Việt Nam, quan niệm về cộng đồng đầu tiên được đề cập trong ngành giáo dục từ những năm 1950 ở các tỉnh phía Nam, sau đó lan rộng sang các lĩnh vực công tác xã hội khác. Từ những năm 1980 trở đi, quan điểm về cộng đồng được phát triển rộng rãi hơn thông qua các chương trình tài trợ của các tổ chức nước ngoài vào Việt Nam, theo đó sự tham gia của cộng đồng người dân là một nhân tố quyết định để các chương trình này thực hiện được và đạt hiệu quả (Võ Quế, 2006). Đề cập đến sự tham gia của cộng đồng trong ngành du lịch, nghiên cứu của Milne và cộng sự (2001) đã chỉ ra cộng đồng là một nhóm người sống trong cùng một địa phương, có thể là thường trú hoặc không thường trú nhưng có chung một mối quan tâm, chia sẻ, liên kết và tương tác với nhau. Sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, duy trì và phát triển du lịch nhằm tạo ra một ngành công nghiệp bền vững hơn, CBT được quản lý và sở hữu bởi cộng đồng, với mục đích cho phép du khách tới thăm có thêm những nhận thức, hiểu biết rõ hơn về cộng đồng và cuộc sống của họ.
Telfer và Shrpley (2008) cho rằng, rất nhiều quan điểm có thể được áp dụng cho các cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch, cộng đồng địa phương có thể được coi là điểm thu hút chính cho phát triển các kỹ năng và kiến thức, trong khi đó có những người coi cộng đồng chỉ đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Các cộng đồng đang ngày càng thu hút các hoạt động du lịch không chỉ từ phía nhu cầu, bởi vì khách du lịch tìm kiếm các điểm đến và cộng đồng mới để trải nghiệm, mà còn từ phía cung, vì bản thân cộng đồng đang nhận thức được tiềm năng của những sản phẩm mà họ có thể cung cấp cho khách du lịch và những lợi ích kinh tế có thể đạt được thông qua các hoạt động đó. Tóm lại, dựa trên quan điểm và mục đích nghiên cứu khác nhau, quan niệm về cộng đồng được đề cập không hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên có một số điểm chung như: thường được dựa trên giá trị của sự gắn kết xã hội và trong một khung thời gian liên tục; thể hiện những mối quan hệ liên quan đến kinh tế, xã hội (cộng đồng làng xã, khu dân cư đô thị); đặc điểm về huyết thống (cộng đồng của các thành viên trong một dòng họ); theo mối quan tâm và quan điểm giống nhau (nhóm sở thích trong một chương trình phát triển); theo môi trường, văn hóa hay các đặc điểm khác như tổ chức, vùng địa lý… Đây là những tiền đề lý thuyết cơ bản để tác giả kế thừa, vận dụng vào thực tiễn phát triển CBT tại Việt Nam nói chung và tiểu vùng Tây Bắc nói riêng. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tiếp cận quan điểm về cộng đồng được hiểu là những người sống trong một khu vực được xác định về mặt địa lý, có những mối quan hệ văn hóa - xã hội với nhau và trách nhiệm với nơi họ sinh sống.
Du lịch cộng đồng Thuật ngữ “Du lịch cộng đồng” được đề cập từ những năm 1980 ở các nước thuộc khu vực châu Âu, châu Mỹ và châu Úc. Khách du lịch đi tham quan các làng bản, tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán lễ hội của người dân địa phương, khám phá hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên vẫn còn giữ được những nét tự nhiên, hoang dã. Tại các điểm đến, khách du lịch cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của người dân địa phương như dẫn đường, ăn, nghỉ và các dịch vụ khác, đây là tiền đề cho phát triển loại hình du lịch cộng đồng (Võ Quế, 2006). Có rất nhiều tên gọi khác nhau liên quan đến hoạt động du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương như: - Community-Based Tourism: (Du lịch dựa vào cộng đồng); - Community-Development in Tourism (Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch); - Community-Based Ecotourism (Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng); - Community-Participation in Tourism (Du lịch có sự tham gia của cộng đồng); - Community-Based Moutain Tourism (Phát triển du lịch núi dựa vào cộng đồng).
Tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng vẫn có những điểm tương đồng giống nhau về địa điểm, mục tiêu và phương pháp tổ chức. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng thuật ngữ “du lịch cộng đồng” (CBT) để chỉ các loại hình “du lịch dựa vào cộng đồng” nói chung. Phát triển từ những năm 1980, đến nay đã có nhiều nghiên cứu về CBT, tuy nhiên chưa có khái niệm mang tính phổ quát cho loại hình du lịch này. P (2010), CBT được hiểu là một loại hình du lịch, ở đó cộng đồng trực tiếp sở hữu và tham gia quản lý, vì mục tiêu phát triển chung trong cộng đồng.
Đây là loại hình du lịch thiên về các nhà cung cấp dịch vụ địa phương, tập trung truyền đạt về môi trường và văn hoá bản địa, nó được thực hiện và hỗ trợ bởi cộng đồng, chính quyền địa phương và các tổ chức Phi Chính phủ (NGOs). Tổ chức du lịch Caribbean (trích dẫn trong Henry, G, 2009) cho rằng CBT là một cách tiếp cận hợp tác để làm du lịch, trong đó các thành viên trong cộng đồng thực hiện kiểm soát thông qua việc tham gia tích cực vào thẩm định, phát triển, quản lý và/hoặc làm chủ một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho các thành viên trong cộng đồng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, tạo thêm giá trị cho các trải nghiệm của du khách trong và ngoài nước. Trong khi đó, Viện Du lịch Cộng đồng Thái Lan (2012) (Thailand Community Based Tourism Institute, 2012) cho rằng CBT coi trọng sự bền vững của môi trường, xã hội và văn hoá.
Cộng đồng tham gia sở hữu và quản lý, vì cộng đồng, với mục luan an 11 đích thúc đẩy du khách nâng cao ý thức và tìm hiểu về cộng đồng và lối sống của người dân địa phương. Luật Du lịch Việt Nam (2017) cũng chỉ rõ CBT “là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi”. Theo Võ Quế (2006, tr.34) thì CBT “là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”.