Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch tỉnh Bình Định Chương 2: Thực trạng khai thác di sản văn hóa triều đại Tây Sơn trong hoạt động du lịch tỉnh Bình Định Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch di sản văn hóa triều đại Tây Sơn ở Bình Định 7. Đóng góp của luận văn Luận văn s nghiên cứu những vấn đề về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa triều đại Tây Sơn trên đất Bình Định còn sót lại qua sự thăng trầm thời gian 12 Footer Page 14 of 107. Header Page 15 of 107. lịch sử, từ đó phân tích những giá trị vai trò của nó trong hoạt động du lịch Bình Định Luận văn hi vọng s trở thành tài liệu tham khảo cho các công ty du lịch trong và ngoài tỉnh áp dụng trong các chƣơng trình du lịch khi khai thác sản phẩm du lịch tại Bình Định Những thông tin luận văn có thể sử dụng tài liệu nghiên cứu cho các ban ngành có liên quan tới lĩnh vực đề tài đề cập tới 13 Footer Page 15 of 107.
Header Page 16 of 107. Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÌNH ĐỊNH 1. Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa, du lịch di sản văn hóa 1.1 Khái luận về văn hóa Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hóa: từ lời ru của mẹ, bài học của cha, trò chơi của chị….cho đến tiếng gọi đò bên sông, tiếng võng đƣa k o kẹt lúc trƣa hè, tiếng chuông buông khi chiều xuống….tất cả, những sự kiện đó, những ấn tƣợng đó, những âm thanh đó, những hình ảnh đó….đều thuộc về văn hóa. Cái tinh thần nhƣ tƣ tƣởng, ngôn ngữ….là văn hóa; cái vật chất nhƣ ăn, mặc, ở….
Chính văn hóa đã nuôi chúng ta lớn, dạy chúng ta khôn. Ngƣời ta nói: văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa du lịch, văn hóa ứng xử, văn hóa tiêu dùng, văn hóa kinh doanh, văn hóa chính trị, văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hòa Bình….từ “văn hóa ” có biết bao là nghĩa, nó đƣợc dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác Nhau Tuy đƣợc dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhƣng suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, văn hóa đƣợc giới hạn theo chiều sâu hoặc chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian….Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa đƣơc hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hóa đƣợc dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hóa đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn văn hóa (văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn…) Theo nghĩa rộng, văn hóa thƣờng đƣợc xem là bao gồm tất cả những gì do con ngƣời sáng tạo ra.
Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết “ Vì l sinh tốn cũng nhƣ mục đích sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt 14 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. hàng ngày về ăn, mặc và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số ngƣời, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tƣ duy và sáng tạo, đối với những ngƣời khác văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngƣỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đƣợc cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” Chính với các hiểu rộng này, văn hóa đã trở thành đối tƣợng của văn hóa học – khoa học nghiên cứu về văn hóa. Trong lĩnh vực này, khởi đầu từ định nghĩa của E.Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy, xuất bản ở London năm 1871, đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Vào năm 1952, hai nhà nhân học ngƣời Mỹ là .Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn hóa có nhan đề: văn hóa-tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa, trong đó dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hóa. Trong lần xuất bản thứ hai cuốn sách này, số định nghĩa văn hóa đã tăng lên đến 200. Còn hiện nay thì số lƣợng định nghĩa về văn hóa khó mà biết chính xác đƣợc: có ngƣời bảo là 400, có ngƣời lại nói là 500, có ngƣời quả quyết rằng chúng đến đến con số hàng nghìn… S không phải là xa sự thật, nếu nói rằng có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hóa. Song, lại cũng có sự thật khác là dù số lƣợng định nghĩa văn hóa có nhiều bao nhiêu đi nữa thì, chung quy lại chúng vẫn chỉ xoay quanh một số khuynh hƣớng cơ bản.
Xét theo cách thức thì ta thấy có hai loại-định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trƣng. Định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa, ví dụ nhƣ theo E.Tylor (1871), văn hóa là “một phức thể bao gồm tri thức, tín ngƣỡng, nghệ 15 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con ngƣời nhƣ một thành viên của xã hội đã đạt đƣợc” Trong loại định nghĩa nêu đặc trƣng thì có thể gặp ba khuynh hƣớng lớn: Khuynh hƣớn thứ nhất coi văn hóa là những kết quả (sản phẩm) nhất định.
Đó có thể là những giá trị, những truyền thống, những nếp sống, những chuẩn mực, những tƣ tƣởng, những thiết chế xã hội, những biểu trƣng, ký hiệu, những thông tin…mà một cộng đồng đã sáng tạo, kế thừa và tích lũy Khuynh hƣớng thứ hai xem văn hóa nhƣ những quá trình. Đó có thể là những hoạt động sáng tạo, những công nghệ, những quy trình, những phƣơng thức tồn tại, sinh sống và phát triển, cách thích ứng với môi trƣờng, phƣơng thức ứng xử của con ngƣời… Khuynh hƣớng thứ ba xem văn hóa nhƣ những quan hệ, những cấu trúc…những giá trị giữa con ngƣời với đồng loại và muôn loài. Tất cả các khuynh hƣớng định nghĩa khác nhau ấy đều có hạt nhân hợp lý của mình, sự khác biệt giữa chúng chủ yếu là do tác giả đã quá nhấn mạnh vào khía cạnh này hay khía cạnh khác của khái niệm mà thôi. Dù theo khuynh hƣớng nào, mọi định nghĩa văn hóa đều chứa một nét nghĩa chung là “con ngƣời”, đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa với con ngƣời.
Mặc dù văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú và phức tạp, với nhiều đặc trƣng (do vậy mà có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau), ta vẫn có thể thấy ở văn hóa nổi lên bốn đặc trƣng cơ bản nhất là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ hống và tính lịch sử - đây là những đăc trƣng cần và đủ cho phép phân biệt văn hóa với các khái niêm có liên quan. Trên cơ sở bốn đặc trƣng này, có thể khái niệm văn hóa nhƣ sau: Văn hóa là một hệ thống hữa cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vậ thể và phi vật thể)…do con ngƣời sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác với môi trƣởng tự nhiên và xã hội của mình. Cách định nghĩa này không những có khả năng bao quá đƣợc khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn có thể cho phép ta nhận diện đƣợc mộ hiên tƣợng văn hóa và phân biệt nó với nhựng hiện tƣợng khác không phải là văn hóa, 16 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107.
từ những hiện tƣợng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo, cho đến những giá trị nhân tạo chƣa có trong lịch sử… 1.2 Khái niệm Di sản văn hóa Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trƣớc để lại [84, tr. Di sản văn hóa theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đƣơng đại và tƣơng lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá,có giá trị.
Di sản văn hóa đƣợc hiểu bằng sự tổng hợp các ý nghĩa nói trên Khái niệm DSVH trong tƣ cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình thành khá lâu dài. Điều này ít có ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại đƣợc hình thành và đƣợc biết đến từ cuộc cách mạng tƣ sản Pháp 1789. Quá trình tịch tu đƣợc tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tƣ sản Pháp đã dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và phá hoại loại tài sản này, nhà nƣớc Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ƣu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia.
Di sản lúc đó đƣợc hiểu nhƣ “ý niệm về mộ tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vƣơng quốc nh đã định nghĩa: “di sản là những gì thuộc về thế hệ trƣớc gìn giữ và chuyển giao cho thế hệ hiên nay và những gì mà một nhóm ngƣời quan trọng trong xã hội hiên nay mong muốn chuyền cho thế hệ tƣơng lai”.