Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch làng nghề Chương 2: Các điều kiện và thực trạng phát triển du lịch làng nghề tại Bến Tre Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch làng nghề tỉnh Bến Tre 12 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về du lịch 1.
Khái niệm du lịch Từ xa xƣa, du lịch đã đƣợc ghi nhận nhƣ một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Ngày nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong trong đời sống văn hóa – xã hội của các nƣớc. Hoạt động du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chƣa thống nhất, có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch.
Theo quan điểm của Tổ chức du lịch thế giới (WTO – 1999) thì Du lịch là một tập hợp các hoạt động và các dịch vụ đa dạng liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con ngƣời ra khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, và nhìn chung là nhiều lý do không phải kiếm sống. Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization - IUOTO) thì: “Du lịch đƣợc hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc để kiếm tiền sinh sống”. 16] Còn theo Luật Du lịch của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 01 tháng 01 năm 2006, tại chƣơng 1, điều 10 định nghĩa: "Du lịch là hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong thời gian nhất định". 2] Nhƣ vậy, hầu hết các khái niệm này đều cho thấy du lịch là hoạt động ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của con ngƣời, nhằm mục đích không phải để kiếm sống.
Các loại hình du lịch Theo cách phân loại tổng quát, du lịch đƣợc chia thành du lịch văn hóa và du lịch sinh thái. 13 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. - Luật du lịch Việt Nam định nghĩa về du lịch văn hoá nhƣ sau: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.
4] Nhƣ vậy, Du lịch văn hoá là loại hình du lịch đƣa du khách tới tham quan và thẩm nhận các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể ở các địa phƣơng trên mọi miền đất nƣớc. Những yếu tố thu hút khách du lịch đến với loại hình này chủ yếu là các bản sắc văn hóa, nét đặc trƣng khác biệt của nền văn hóa đó ví dụ nhƣ lễ hội truyền thống, phong tục tín ngƣỡng, tôn giáo, lịch sử, nghệ thuật,… hình thành nên nền văn hóa của ngƣời dân nơi mà khách du lịch đến tham quan. Các loại hình du lịch văn hoá gồm: Du lịch tham quan, nghiên cứu; Du lịch lễ hội; Du lịch làng nghề; Du lịch làng bản; Du lịch tôn giáo, tín ngƣỡng; Du lịch phong tục, tập quán. - Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [23,tr.
4] Từ khái niệm trên ta có thể hiểu du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên, bao gồm cả tìm hiểu, nghiên cứu thiên nhiên; tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa bản địa của cộng đồng. Tài nguyên du lịch sinh thái chính là các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hoá bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó. Du lịch sinh thái bao hàm nhiều loại hình khác nhau, nhƣ: Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism), Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature - Based Tourism), Du lịch môi trƣờng (Environmental Tourism), Du lịch đặc thù (Particular Tourism), Du lịch xanh (Green Tourism), Du lịch mạo hiểm (Adventure Tourism), Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism), Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism), Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism), Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism), Du lịch bền vững (Sustainable Tourism),… Ở nƣớc ta hiện nay, loại hình Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism) hay Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature - Based Tourism) đang đƣợc nhiều ngƣời ƣa thích. Theo cách phân loại cụ thể, ngƣời ta căn cứ vào những yếu tố sau đây để phân chia thành các loại hình du lịch: 14 Footer Page 18 of 107.
Header Page 19 of 107. - Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: du lịch nội địa và du lịch quốc tế - Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách: du lịch chữa bệnh; du lịch nghỉ ngơi giải trí; du lịch thể thao; du lịch tôn giáo; du lịch khám phá, du lịch công vụ - Căn cứ vào phƣơng tiện giao thông: du lịch bằng xe đạp; du lịch tàu hỏa; du lịch tàu biển; du lịch ô tô; du lịch hàng không. - Căn cứ theo phƣơng tiện lƣu trú: du lịch ở khách sạn; Motel; nhà trọ; camping. - Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm đến: du lịch miền biển; du lịch miền núi; du lịch đô thị; du lịch đồng quê.
- Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch: du lịch theo đoàn; du lịch cá nhân. - Căn cứ vào thành phần của du khách: du khách thƣợng lƣu; du khách bình dân. - Căn cứ vào phƣơng thức ký kết hợp đồng đi lại: du lịch trọn gói, mua từng phần dịch vụ của tour du lịch. Khách du lịch Có nhiều khái niệm về khách du lịch.
Tuy nhiên do hoàn cảnh thực tế mỗi nƣớc, theo quan điểm khác nhau của các tác giả nên các khái niệm đƣa ra không hoàn toàn giống nhƣ nhau. Nhƣng hầu nhƣ tất cả các khái niệm, khách du lịch đều là những ngƣời rời khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình. Theo Luật Du lịch Việt Nam: "Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến". 2] Khách du lịch ở đây đƣợc chia thành khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. - Khách du lịch quốc tế là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú tại Việt Nam ra nƣớc ngoài du lịch. 15 Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107.
Cơ sở lý luận về làng nghề 1. Làng Theo tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam” thì: “Làng là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng có nghĩa là nơi quần cƣ đông ngƣời sinh hoạt, có tổ chức, có kỷ cƣơng, tập quán riêng theo nghĩa rộng. 9] Làng là một đơn vị cộng cƣ có một vùng đất chung của cƣ dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp, tự túc. Mặt khác, làng là mẫu hình xã hội phức hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình tông tộc, gia trƣởng, đảm bảo sự cân bằng bền vững của xã hội nông nghiệp ấy.
Làng còn nơi lƣu trữ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của ngƣời Việt. Làng Việt ở Bắc Bộ đƣợc bao bọc bởi lũy tre xanh, đây cũng là biểu tƣợng cho tính chất “nửa kín” (từ dùng của GS. Trần Quốc Vƣợng) hay tính “tự trị” (từ dùng của GS. Trần Ngọc Thêm) của làng Việt.
“Rặng tre bao kín quanh làng, trở thành một thứ thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm: đốt không cháy, trèo không đƣợc, đào đƣờng hầm thì vƣớng rễ không qua. Lũy tre là đặc điểm quan trọng của xóm làng Việt Nam, khác với ấp lí Trung Hoa có thành quách bằng đất bao bọc. Bởi vậy lũy tre có thể đƣợc coi là bức tƣờng rào kiên cố để ngăn cách làng với thế giới bên ngoài. Để vào đƣợc trong làng thì phải đi qua cổng làng, cổng làng là cầu nối giữa làng với bên ngoài.
Một số làng để ra đƣợc bên ngoài làng không chỉ qua cổng làng mà còn vƣợt thuyền qua sông với những làng Việt giáp sông. Nhƣng cổng làng vẫn là con đƣờng chính, có những làng có nhiều cổng nhƣ cổng tiền cổng hậu hay cổng chính, cổng phụ để thuận tiện cho việc đi làm đồng. Cổng làng có thể coi là biểu tƣợng cho tính chất “nửa hở”(từ dùng của GS. Trần Quốc Vƣợng) hay tính “cộng đồng” (từ dùng của GS.Trần Ngọc Thêm).
Thƣờng thì mỗi làng, bên cạnh cổng làng là một, hai cây đa hoặc cây gạo, là nơi nghỉ mát, gặp gỡ của những ngƣời đi làm đồng sau những giờ lao động nặng nhọc vất vả hay của những khách qua đƣờng. Cổng làng cũng đƣợc coi là một nét văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. 16 Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107.
Chúng ta thƣờng nghe nói “cây đa, bến nƣớc (giếng nƣớc), sân đình”, làng nào không có dòng sông chảy qua thì thƣờng có một giếng nƣớc ở giữa làng. Đình làng là nơi sinh hoạt văn hóa của dân làng, là trung tâm chính trị, văn hóa của làng, là nơi diễn ra hội làng, tế lễ, thờ cúng Thành Hoàng làng. Đây là những biểu tƣợng đặc trƣng của làng quê truyền thống đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Trong quá trình phát triển của lịch sử hay trong thời đại hiện nay, ngƣời Việt Nam vẫn không phủ nhận vai trò của làng xã.
Làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng nhƣ trong đời sống của mỗi ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân ở những vùng nông thôn. Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng phép nƣớc và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn đƣợc duy trì, phát triển. Nghề Nghề đồng nghĩa với nghề nghiệp, nghề làm để mƣu sống. Ở hầu hết các địa phƣơng trên cả nƣớc, làng quê nào ngoài sản xuất nông nghiệp đều có làm thêm một vài nghề phụ.