CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Trên thế giới - Hướng nghiên cứu về đánh giá điều kiện tự nhiên phát triển du lịch. Cuối những năm 60 của thế kỉ XX, đặc biệt tại Liên Xô ( cũ), bắt đầu xuất hiện nhiều công trình đánh giá về điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch.
Các công trình tập trung vào việc đánh giá các hợp phần tự nhiên và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch như: các chỉ tiêu đánh giá bãi tắm về chiều rộng và vật liệu nền đáy của bãi biển như cát, sỏi, cuội, sét, bùn ( Viện Địa lí – Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô); Các chỉ tiêu đánh giá mức độ đa dạng của cảnh quan cho dạo chơi ngắm cảnh (V. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ tương phản địa hình (I.Vedenhin và nnk, 1975); Các chỉ tiêu về nhiệt độ nước để xác định thời hạn của mùa tắm (Kornilova, 1979); Đánh giá toàn bộ các yếu tố tự nhiên (Iu. [1,15] Kế thừa các nghiên cứu của các học giả Liên Xô (cũ), các nhà khoa học Bungari đã phát triển cả về phương pháp luận cũng như thực tiễn nghiên cứu, theo Đ.Bắc (2005) đây được coi là quốc gia có các công trình về kiểm kê tài nguyên du lịch một cách hệ thống nhằm phục vụ cho việc tổ chức lãnh thổ và quy hoạch phát triển du lịch. Các công trình đánh giá dựa trên các tiêu chí về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, giao thông; Xây dựng mô hình đánh giá tài nguyên tự nhiên cho mục đích du lịch; Đánh giá các nguồn nước khoáng nóng nhằm phục vụ quy hoạch phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh.
Từ năm 1980, Trung Quốc được coi là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển du lịch nhanh và mạnh trên thế giới. Các 9 nhà địa lý Trung Quốc đã dựa trên bảng phân loại tài nguyên du lịch của UNTWO để kiểm kê, phân loại, đánh giá tài nguyên và các nguồn lực phát triển du lịch trên phạm vi cả nước và các địa phương. [1,15] Tại Mỹ và các nước Tây Âu, các công trình đánh giá điều kiện địa lý phục vụ mục đích du lịch, nghỉ dưỡng được phát triển và đề cập thêm nhiều yếu tố mới như: dựa vào khả năng tiếp cận, hiện trạng sử dụng đất, chất lượng môi trường, hệ thống đường trong rừng, địa hình, các loại tài nguyên nước; Xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa trên mức độ thuận lợi của số ngày mưa trong năm thích hợp với hoạt động du lịch; Xây dựng giản đồ tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm tuyệt đối phù hợp với khách du lịch. Dưới góc độ đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn, B.Rosemary (1998) dựa vào các chỉ tiêu như: khả năng tiếp cận các hoạt động du lịch, cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, sự lôi cuốn và sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Đồng thời, đánh giá tài nguyên du lịch cũng được coi là một bước cơ bản trong quá trình quy hoạch phát triển du lịch của từng địa phương hoặc ở quy mô quốc gia. Nhiều phương pháp mới mang tính định lượng cao được áp dụng trong đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên như phương pháp ma trận, phương pháp “phân tích chi phí - lợi ích” (CBA), “chi phí du hành” (TCM), phương pháp “đánh giá ngẫu nhiên” (CVM). Tóm lại, từ nửa cuối thế kỷ XX, hướng nghiên cứu về đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch được phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù không có cùng xuất phát điểm và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng các công trình đều theo hướng đánh giá mức độ thuận lợi của tài nguyên cho mục đích phát triển du lịch.
Các công trình nghiên cứu đi theo hướng từ mô tả, kiểm kê đến việc đưa ra các chỉ tiêu đánh giá phục vụ mục đích du lịch, nghỉ dưỡng. Nhiều phương pháp đánh giá tài nguyên đã được áp dụng, các phương pháp đánh giá phát triển dần từ định tính sang hướng định lượng cao. - Hướng nghiên cứu về du lịch bền vững. Vào đầu thập kỷ 90, thuật ngữ “du lịch bền vững” lần đầu tiên xuất hiện do nhiều tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới đề cập (UNWTO, 1992; WTTC, 1996, L.Hens, 1998), đồng thời nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm đưa ra các khía cạnh ảnh hưởng của du lịch đến phát triển bền vững; WWF-UK (1998) đã đưa ra 4 nguyên tắc của du lịch bền vững bao gồm: (1) phát triển du lịch trong khả năng cho phép của tài nguyên thiên nhiên 10 nhằm bảo đảm hiệu suất cũng như sự tái sinh của tự nhiên; (2) nhìn nhận sự đóng góp của cộng đồng địa phương và tập quán, lối sống của họ như một dạng tài nguyên du lịch; (3) đảm bảo người dân địa phương được hưởng các nguồn lợi kinh tế từ hoạt động du lịch một cách công bằng; (4) định hướng phát triển du lịch trên cơ sở mong muốn của cộng đồng địa phương.
Các công trình về phát triển du lịch bền vững tập trung hướng đến các mục tiêu xã hội, thông qua các hoạt động du lịch tạo công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương, giúp xóa đói giảm nghèo và góp phần bảo tồn thiên nhiên. [15] - Hướng nghiên cứu về du lịch xanh. DLX được xác định là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên, nhưng DLX cũng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo Fandeli (2000) [29]. Mục đích của DLX là cung cấp cái nhìn sâu sắc và mối quan tâm đến môi trường, đồng thời nâng cao sự quan trọng đối với thiên nhiên.
DLX bao gồm các hoạt động giảm thiểu các khía cạnh tiêu cực của du lịch truyền thống đối với môi trường và nâng cao văn hóa của người dân địa phương. Vì vậy, ngoài việc đánh giá các yếu tố môi trường và văn hóa, DLX là một phần không thể thiếu trong các hoạt động thúc đẩy, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, sử dụng hiệu quả, bảo vệ tài nguyên và trao quyền cho cộng đồng để phát triển các hoạt động kinh tế. Việc thực hiện DLX sẽ mang lại sự chắc chắn về môi trường, văn hóa và cộng đồng tại các địa điểm du lịch. Báo cáo đặc biệt, Du lịch sinh thái Hoa Kì Thị trường, WTO, (2002) DLX mang lý tưởng của du lịch sinh thái dựa trên việc bảo tồn, có thể tạo ra sự thay đổi, hoạt động có ý nghĩa và bền vững hơn đối với cộng đồng địa phương trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch.
Hơn nữa, DLX có thể giảm thiểu sự tàn phá thiên nhiên, hỗ trợ bảo vệ khu vực, trao quyền cho cộng đồng địa phương, đánh giá cao hơn về văn hóa và giá trị địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn thiên nhiên và môi trường “Green Tourism: Certification Manual” của Ravinder N. Batta ( 2009), [26] tác giả người Ấn Độ đã nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường, nhận thức, thái độ, hành vi của khách du lịch và người làm du lịch, từ đó đưa ra các tiêu chí cần thiết về chứng nhận DLX. "DLX và tính bền vững môi trường: Bằng chứng từ các điểm đến trên đảo" 11 của C. Nghiên cứu này đã phân tích mối quan hệ giữa DLX và tính bền vững môi trường ở các điểm đến trên đảo và tác động của các hoạt động DLX đối với môi trường.
Ở Việt Nam Với sự ra đời muộn của ngành du lịch, trước những năm 80 của thế kỉ XX, tại Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, nhất là những vấn đề về cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu. Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam ( 1986), thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế từng bước được mở cửa, ngành Du lịch có điều kiện mở mang hoạt động, đặt nền móng cho sự phát triển, đóng góp quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chỉ thị 46- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII ban hành vào tháng 10/1994 đã khẳng định “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nuớc”. Đặc biệt, ngày 11/11/1998, Bộ Chính trị ra Thông báo kết luận số 179- TB/TW về phát triển du lịch trong tình hình mới, tạo bước ngoặt quan trọng cho ngành Du lịch phát triển lên tầm cao mới.
Nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên, quy hoạch, phân vùng và TCLTDL đã được công bố. Những công trình này đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn trong phát triển du lịch từ quy mô cấp tỉnh, vùng đến phạm vi cả nước. - Hướng nghiên cứu về đánh giá điều kiện tự nhiên phát triển du lịch. Các yếu tố tự nhiên không tồn tại một cách độc lập mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, do vậy các nhà khoa học trong nước đã không những tiến hành đánh giá từng thành phần tự nhiên mà còn thực hiện đánh giá tổng hợp.
Phân tích hoàn thiện về du lịch, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch, vai trò của tài nguyên đối với hoạt động du lịch, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá theo từng dạng tài nguyên du lịch, từ đó tiến hành phân vùng du lịch Việt Nam ( Nguyễn Minh Tuệ và cs, 1994). [22] Một số luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công trong nước theo hướng đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên với mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên phục vụ quy hoạch không gian, tổ chức lãnh thổ du lịch tại nhiều địa bàn khác nhau trên cả nước (N.Thông, 2004; Nguyễn Hữu Xuân, 2009). Các luận án tiến sĩ 12 hầu hết dựa vào hệ thống cơ sở lí luận, sau đó áp dụng vào địa bàn nghiên cứu, để đánh giá tình hình thực tiễn của du lịch từng địa phương. Các tác giả đều có sự phân hóa hướng tiếp cận, bao gồm: đánh giá từng thành phần; đánh giá tổng thể tự nhiên và sức chứa du lịch của lãnh thổ.
[11] - Hướng nghiên cứu về du lịch bền vững.