CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Về biến đổi khí hậu BĐKH đang là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu, được nhiều tổ chức và các nước trên thế giới quan tâm.
Từ nửa sau thế kỉ XX đến nay, đã có nhiều hội nghị được triển khai nhằm hướng tới mục đích tìm hiểu, tăng cường sự nhận thức của con người về BĐKH và giảm thiểu rủi ro từ đó. Sau hội nghị Khí hậu quốc tế lần thứ nhất diễn ra vào năm 1979, một loạt các hội nghị liên chính phủ thảo luận về vấn đề BĐKH được tổ chức từ những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 như: Hội nghị Villach (10/1985), Hội nghị Toronto (6/1988), Hội nghị Ottawa (2/1989), Hội nghị Tata (2/1982), Hội nghị và tuyên bố Hague (3/1989), Hội nghị bộ trưởng Noordwijk (11/1989), Hội nghị Cairo (12/1989), Hội nghị Bergen (5/1990), và Hội nghị Khí hậu thế giới lần thứ 2 (11/1990). Năm 1988, Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) được thành lập. IPCC có nhiệm vụ đánh giá một cách tổng hợp, khách quan, minh bạch các thông tin khoa học – kỹ thuật và KT – XH liên quan đến các rủi ro xuất phát từ hiện tượng BĐKH do các hoạt động của con người gây ra.
Từ năm 1990 đến năm 2013, IPCC đã công bố 5 báo cáo về BĐKH (1990, 1995, 2001, 2007, 2012). Năm 2009 đã xác định và tóm tắt các nghiên cứu mới nhất, đánh giá của các chuyên gia liên quan đến tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH như: mực nước biển dâng (NBD), nhu cầu cấp nước, thay đổi trong nông nghiệp, huỷ hoại sinh thái, cơ sở hạ tầng và các mẫu bệnh trong công trình nghiên cứu “Đông Nam Á và những hòn đảo ở Thái Bình Dương: ảnh hưởng của BĐKH đến năm 2030” Năm 2015 tại Hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu đã thông qua Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều thống nhất hành 9 động để giữ cho nhiệt độ toàn cầu vào cuối thế kỷ tăng ở dưới mức 20°C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Tại Việt Nam, giảm thiểu tình trạng BĐKH cũng được xem là mang tính chiến lược cho sự phát triển của đất nước.
Theo Báo cáo về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn 2019 của tổ chức Germanwatch, cho biết 10 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH gồm: Puerto Rico, Sri Lanka, Dominica, Nepal, Peru, Việt Nam, Madagasca, Sierra Leone, Bangladesh và Thái Lan. Trong 40 năm qua, số lượng các cơn bão ở Việt Nam đã giảm xuống, nhưng cường độ lại tăng lên và phạm vi thiệt hại ngày càng mở rộng. Theo kịch bản này, cường độ và khả năng khó lường của bão sẽ tăng lên, phạm vi thiệt hại tiếp tục mở rộng về phía Nam. Năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam đã công bố kịch bản BĐKH và nước biển dâng, kịch bản được cập nhật vào các năm 2012 và 2015.
Để ứng phó với tác động ngày càng lớn của BĐKH đến Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về BĐKH: Quyết định số 28 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Quyết định số 1474/QĐ- TTg 5/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 - 2020. Năm 2011, Viện Khoa học khí tượng thủy văn và Môi trường ban hành “Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng”. Tài liệu đã đưa ra quy trình đánh giá tác động của BĐKH đối với các ngành, các lĩnh vực và quy trình xây dựng giải pháp thích ứng với BĐKH. Năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra “Báo cáo cập nhật hai năm một lần của Việt Nam cho công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH”.
Năm 2015, Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và BĐKH IMHEN có “Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH” với nội dung đánh giá mức độ phơi bày 10 trước hiểm họa và khả năng dễ bị tổn thương trước các hiện tượng khí hậu cực đoan, quyết định đến các tác động và khả năng xảy ra thiên tai. Năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục công bố “Kịch bản BĐKH, NBD” dưới sự kế thừa kịch bản BĐKH, NBD những năm trước và tình hình diễn biến thực tế của BĐKH tại Việt Nam. Đây là định hướng cho Bộ, ngành, địa phương đánh giá tác động BĐKH và triển khai kế hoạch hành động nhằm thích ứng, giảm thiểu những tác động tiềm tàng của BĐKH. Về sinh kế Thuật ngữ sinh kế bắt đầu xuất hiện từ năm 1987 trong báo cáo “Our common future” của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) [34] cùng với ý tưởng về mục tiêu phát triển bền vững trên thế giới.
Sau đó một định nghĩa đầy đủ hơn của Conway Chambers (1992) trong “Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the 21st century” và đã trở thành khái niệm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này của các tác giả như Ashley và Carney (1999) [37], Frank Ellis (1999), Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001), Miranda Cahn (2002), Miranda Cahn (2002)… Trong đó, tác giả Miranda Cahn (2002) đã nhâṇ đinḥ rằng khi áp dụng phân tích, đánh giá sinh kế cần điều chỉnh khái niệm cho phù hợp với từng khu vực, lãnh thổ vì sự khác biệt về nguồn lực và hoàn cảnh địa lý. Tác giả cho rằng, khi áp dụng phân tích sinh kế ở khu vực Thái Bình Dương cần chú ý đến các yếu tố văn hóa, lịch sử truyền thống, các yếu tố đặc trừng về giới… vì chúng có tác động đến sinh kế ở nhiều khía cạnh [52]. Từ khái niệm về sinh kế, nhiều tác giả cũng đề cập đến khái niệm sinh kế bền vững (SKBV - Sustainable Livelihood) để trả lời cho câu hỏi khi nào một sinh kế được coi là bền vững nhằm thích ứng với tình hình phát triển hiện tại. WCED cho rằng sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép và là phương tiện để đạt được 2 mục tiêu trong phát triển kinh tế: Công bằng và bền vững [47].
11 Khái niệm này cũng được Scoones (1998) đề cập và Hanstad (2004) diễn giải với những nét tương đồng về tính chất lâu bền theo thời gian của các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn tự nhiên. Các nhà nghiên cứu thuộc DFID lại quan niệm rằng tính bền vững của sinh kế dựa trên khả năng phục hồi trước biến động, tính ít phụ thuộc và mối quan hệ với các kế khác. Đây là nhận định quan trọng để tác giả có cở sở áp dựng, xây dựng các tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương của sinh kế người dân trên địa bàn. Một cách khác để đánh giá tính bền vững của sinh kế là cách đánh giá dựa trên những khía cạnh của PTBV: Môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế cũng được DFID đề xuất trong Sustainable livelihoods guidance sheets [39].
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã tổng hợp những quan niệm về sinh kế trên cả khía cạnh học thuật và vận dụng trong cuộc sống, trong đó gắn liền với vấn đề đảm bảo mức sống, giảm nghèo hay đi sâu nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sinh kế dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững của DFID. Một nghiên cứu mang tính tổng hợp và phân tích cơ sở lý luận về sinh kế của các tác giả trên thế giới là Khung SKBV: Một cách phân tích toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo của Nguyễn Văn Sửu (2010) , đã làm rõ sự thay đổi của thuật ngữ sinh kế từ nghĩa thông thường trước đây đến những khía cạnh khác trong các nghiên cứu hiện nay. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng, đến các điểm mạnh, khả năng chịu đựng và những rủi ro trong cách kiếm sống của người dân. Những yếu tố này có thể có tác động trực tiếp như nguồn vốn, công việc, hoạt động văn hóa, các trợ giúp để tiếp cận (hoặc hạn chế khả năng tiếp cận) nguồn vốn, hoặc gián tiếp như chính sách, thể chế, và các quá trình ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh kế của người dân.
Hai tác giả Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012) đã rất thành công trong nghiên cứu và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân vùng biển trên cơ sở các mô hình sinh kế của DFID, IMM [8], [9]. Từ công trình này có thể nhận thấy, việc gia tăng các rủi ro từ khí hậu là một trong những 12 áp lực lớn làm gia tăng nguy cơ tổn thương sinh kế, đặc biệt cộng đồng dân cư mà sinh kế chính dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng biển, hải đảo. Về đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế do biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã, đang và sẽ tác động rất nghiêm trọng đến sinh kế người dân, đặc biệt là cộng đồng người dân dễ bị tổn thương. Wisner và công sự (2004) cho rằng, khả năng tổn thương xác định các đặc điểm của cá nhân hay cộng đồng về khả năng dự báo, ứng phó, chống chịu và phục hồi từ tác động của tai biến [55].
Rủi ro tai biến là một hàm của tai biến và khả năng tổn thương, điều đó có nghĩa là tính dễ bị tổn thương chỉ mức độ địa phương, cộng đồng, hộ gia đình hay cá nhân có thể bị ảnh hưởng khi tai biến xảy ra. Theo ISSMGE TC32 (2004), khả năng tổn thương là mức độ thiệt hại của một thành tố hoặc một tập họp các thành tố trong khu vực bị ảnh hưởng bởi các mối nguy hiểm [46], nhóm tác giả này cũng quan niệm tính dễ bị tổn thương cũng xảy ra ở tại địa phương, cộng đồng hay gia đình và có sự khác biệt nhất định nào đó với lãnh thổ khác. Các đối tượng có thể bị phơi lộ dưới nhiều dạng tai biến khác nhau bao gồm các sự kiện thời tiết bất thường, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, xung đột dân sự, áp lực môi trường. Sau này cũng có nhiều tác giả quan niệm tính dễ bị tổn thường nhưng cơ bản vẫn thể hiện các nội dung như đã phân tích, theo Brikanm (2006), trên thế giới có hơn 25 định nghĩa, khái niệm tính dễ bị tổn thương [11].
Trước những vấn đề mà thế giới phải đối mặt như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chiến tranh.