Luận án tiến sĩ về tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trong dạy học sinh học

Tài liệu Tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trong dạy học sinh họ tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành y tế

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

313
20
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung

Bài viết này tập trung vào việc tích hợp giáo dục môi trườngbiến đổi khí hậu trong dạy học sinh học, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của học sinh đối với môi trường. Giáo dục môi trường không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các vấn đề môi trường mà còn trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu, thách thức này đang ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là tại Việt Nam. Việc lồng ghép các nội dung giáo dục về môi trường và khí hậu vào chương trình học sẽ giúp học sinh hình thành những thói quen và hành động bảo vệ môi trường ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

1.1. Tầm quan trọng của giáo dục môi trường

Giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu là những vấn đề cấp bách trong bối cảnh hiện nay. Việc giáo dục về môi trường không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn bao gồm cả việc hình thành thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường. Theo các nghiên cứu, việc nhận thức môi trường tốt sẽ dẫn đến những hành động bảo vệ môi trường hiệu quả hơn. Học sinh cần được trang bị không chỉ kiến thức mà còn cả kỹ năng để có thể ứng phó với những thách thức về biến đổi khí hậu trong tương lai.

II. Cơ sở lý luận về tích hợp giáo dục môi trường

Tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trong dạy học sinh học cần dựa trên những cơ sở lý luận vững chắc. Theo đó, giáo dục bền vững là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để đảm bảo rằng học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn áp dụng vào thực tiễn. Việc tích hợp này cần được thực hiện một cách có hệ thống, từ việc xác định nội dung đến phương pháp dạy học. Hệ thống chủ đề sinh học các cấp độ tổ chức sống sẽ giúp giáo viên dễ dàng lồng ghép các kiến thức về môi trường vào trong từng bài học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực cho học sinh.

2.1. Nguyên tắc tích hợp giáo dục môi trường

Nguyên tắc đầu tiên trong việc tích hợp giáo dục môi trường là không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học. Mỗi môn học cần giữ được bản sắc riêng, tuy nhiên, việc lồng ghép các nội dung giáo dục môi trường vào môn sinh học sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa sinh học và môi trường. Nguyên tắc thứ hai là phát huy tính tích cực của học sinh. Học sinh cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động thực tiễn để từ đó hình thành những thói quen tốt trong việc bảo vệ môi trường.

III. Phương pháp dạy học tích hợp

Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích hợp là rất cần thiết trong việc giáo dục về môi trường và biến đổi khí hậu. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn khuyến khích các em tham gia vào các hoạt động thực tiễn. Một trong những phương pháp hiệu quả nhất là tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến môi trường, nơi học sinh có thể trực tiếp trải nghiệm và thực hành những gì đã học. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các vấn đề môi trường mà còn tạo ra những kỷ niệm đáng nhớ trong quá trình học tập.

3.1. Tổ chức hoạt động dạy học

Các hoạt động dạy học có thể bao gồm các chuyến đi thực tế, các buổi thảo luận nhóm về các vấn đề môi trường, hay các dự án nghiên cứu nhỏ. Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng làm việc nhóm mà còn nâng cao khả năng phân tích và giải quyết vấn đề. Hơn nữa, việc tổ chức các hoạt động này cần được lên kế hoạch cụ thể để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc giáo dục về môi trường và biến đổi khí hậu.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trong dạy học sinh học là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc này không chỉ giúp học sinh nâng cao nhận thức về môi trường mà còn trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để ứng phó với những thách thức mà thế giới đang phải đối mặt. Các trường học cần chú trọng đến việc phát triển các chương trình giáo dục tích hợp, đồng thời khuyến khích giáo viên sáng tạo trong việc thiết kế các bài học. Điều này sẽ giúp tạo ra một thế hệ học sinh có trách nhiệm hơn với môi trường và có khả năng đóng góp tích cực vào việc bảo vệ hành tinh.

4.1. Khuyến nghị cho giáo viên

Giáo viên cần được đào tạo về phương pháp dạy học tích hợp để có thể lồng ghép các nội dung giáo dục về môi trường vào trong các bài giảng của mình. Họ cũng nên được khuyến khích tham gia vào các khóa đào tạo chuyên sâu về giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu để nâng cao kiến thức và kỹ năng. Việc này sẽ giúp giáo viên tự tin hơn trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh và tạo ra một môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ xây dựng và sử dụng các chủ đề tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trong dạy học sinh học các cấp độ tổ chức sống trên cơ thể ở trường phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương: hương 1: ơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài hương 2: Xây dựng và sử dụng các chủ đề tích hợp G MT và KH trong dạy học Sinh học các T S trên cơ thể ở trường phổ thông. hương 3: Thực nghiệm sư phạm 8 Ầ 2 QUẢ Ê ỨU ƢƠ : Ơ Ở Ý U V Ự Ễ Ủ Ề 1. ổ qua ứu về áo dụ trƣờ v ế đổ k í u tr t ế ớ v ở V ệt a 1. Tình hình nghiên cứu giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trên thế giới 1.

Tình hình nghiên cứu về giáo dục môi trường ã có nhiều Hội nghị quốc tế về G MT được tổ chức nhằm triển khai mạnh mẽ công tác G MT. Ngày 05/06/1972, hội nghị cấp cao đầu tiên của Liên hợp quốc tại Stốckhôm (Thụy iển) về “môi trường và con người”. Ngày này đã đi vào lịch sử là “Ngày môi trường thế giới” để nhắc nhở mọi người bằng hành động thiết thực đóng góp tích cực vào việc ngăn chặn sự suy thoái và huỷ diệt môi trường [58]. Tháng 10/1974 đến tháng 10/1975, UNES O đã tập hợp các tổ chức khác nhau cùng xây dựng và phát triển chương trình G MT trên phạm vi toàn cầu.

UNESCO và UN P đã tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về G MT ở elgrade (Nam tư). Tại đây, hiến chương elgrade đã nêu rõ: mục tiêu về G MT nhằm nâng cao một cách toàn diện nhận thức, tri thức, hành vi, kỹ năng, khả năng đánh giá các vấn đề nảy sinh về môi trường và ý thức trách nhiệm của mọi người tham gia một cách tự giác và tích cực vào các hoạt động VMT [59]. Tháng 10/1977, diễn ra hội nghị liên chính phủ về G MT ở Tbilixi, hội nghị đã ra tuyên ngôn về G MT trong đó có 41 khuyến nghị về chiến lược G MT đối với các quốc gia, thống nhất cao các mục đích, mục tiêu, những nguyên tắc hoạt động của người hướng dẫn, những kết quả cần đạt được của G MT [77]. Tháng 9/1980, Hội thảo của khu vực hâu á - Thái ình ương về G MT tại ăng ốc đã cụ thể hoá các mục tiêu, tính chất, mức độ về G MT: GDMT cần được thực hiện xuyên suốt mọi cấp học chính quy và không chính quy, tích hợp và lồng ghép qua mọi môn học.

G MT cần tập trung vào việc xây dựng định hướng về giá trị, góp phần giải quyết các vấn đề thực tại nảy sinh trong cuộc sống. Hội thảo đã trao đổi kinh nghiệm của các nước về nội dung, hình thức, biện pháp G MT ở từng cấp học, việc xây dựng chương trình, tài liệu, phương tiện phù hợp cho từng đối tượng, việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên, đào tạo các chuyên gia về môi trường đã được các nước trong khu vực đặc biệt quan tâm [59]. 9 Năm 1989, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OE ) đã triển khai chương trình nghiên cứu về G MT và đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo để các giáo viên của 19 nước trao đổi kinh nghiệm giảng dạy. Quỹ Thế Giới về hoạt động hoang dã (WWF) cũng tham gia tích cực vào chiến lược G MT với các hoạt động như: cảnh báo về những giống loài có nguy cơ tuyệt chủng, giáo dục tính đa dạng sinh học.

Tháng 10/1990 đến năm 1992, UNES O và UNEP cùng một số tổ chức khác của Liên hợp quốc đã tổ chức hội nghị “ hương trình quốc tế về giáo dục và đào tạo môi trường” (EFE) và nhấn mạnh giáo viên được xem là một đối tượng cần được thường xuyên trang bị hiểu biết cần thiết về G MT; Hội nghị thượng đỉnh về Trái ất tại Rio de Janeiro ( razin) đã ra bản hiến chương 21 xác định hành động xem xét lại tình hình G MT và đưa nội dung G MT vào chương trình giáo dục cho tất cả các cấp học. Hoạt động này đã thực hiện ở Australia và đã tạo một mô hình tốt cần được nhân rộng [76]. Ở Mỹ, G MT khá sôi nổi với tổ chức nổi tiếng là Liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF). Ở đây người ta đã cho giảng dạy trong các trường 33 tiết học về môi trường có thể áp dụng ngay vào thực tế (dự án LASS).

Ở ức, G MT được khai thác trong nhiều môn học trong chương trình chính khoá, đặc biệt là môn Sinh học, ịa lý. Tivi, băng hình, phim ảnh được sử dụng nhiều để G MT. Trong G MT, các nhà trường ở ức coi trọng thực hành. Học sinh được đi tham quan thực tế những vùng môi trường “có vấn đề”, sau đó các em cùng nhau thảo luận tìm ra giải pháp khắc phục.

Ấn độ đã xây dựng chương trình quốc gia về đào tạo bồi dưỡng giáo viên về môi trường. Trường phổ thông cơ sở đã có sách riêng về G MT, chiếm 20% thời gian học tập. Ở THPT thì nội dung này gắn với một số bộ môn liên quan đến thiên nhiên, động thực vật và vấn đề ô nhiễm. Trung Quốc, ại học sư phạm ắc Kinh đào tạo bồi dưỡng giáo viên về G MT và G MT được đưa từ cấp phổ thông đến đại học.

Ở phổ thông, G MT được khai thác ở hầu hết các môn học. Ở bậc đại học, một số trường đại học có chương trình và môn học riêng như Luật Môi trường, Kinh tế môi trường, Kỹ thuật môi trường, Quản lý môi trường… 10 Ở Pháp, ộ Giáo dục đặc biệt quan tâm nội dung G MT đều được khai thác qua dạy học các môn: Sinh vật, ịa lý, Hoá học. ác chương trình giảng dạy các môn khoa học tự nhiên đều được mở rộng kiến thức về VMT. Trong các trường học có sự tăng cường các tiết học về rừng núi, biển, thiên nhiên,.

cũng như các cuộc dã ngoại tìm hiểu thực tế về các chủ đề này. Vì vậy, việc bồi dưỡng và đào tạo dài hạn các giáo viên để giảng dạy về môi trường đã trở nên cần thiết trong các trường đại học nói chung và các trường sư phạm nói riêng [59]. xét u : Tình hình nghiên cứu G MT trên thế giới được tiếp cận khá đa dạng tùy vào quan điểm cụ thể: Ở bậc đại học, có nước đã xây dựng chương trình và môn học riêng về G MT, như ở Pháp, Trung Quốc, Ấn ộ; trong đó, ở Pháp coi trọng việc đào tạo giáo viên giảng dạy về G MT; còn ở ức lại coi trọng thực hành thiên nhiên tìm giải pháp khắc phục các vấn đề về ô nhiễm môi trường. Ở bậc phổ thông, đa số các nước tập trung khai thác nội dung G MT qua các môn học thuộc các cấp học phổ thông mà không xây dựng chương trình và môn học riêng về G MT (ở Pháp, ức, Ấn ộ…).

Tình hình nghiên cứu về giáo dục biến đổi khí hậu Từ năm 1980-1987, chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IU N) và quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) và Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển - W E đã định nghĩa thuật ngữ phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” [36], [109]. Giáo dục vì sự phát triển bền vững là đề ra một hướng đi mới về giáo dục cho tất cả mọi người. Nội dung về giáo dục vì sự phát triển bền vững chứa đựng các nội dung về môi trường gồm có: nguồn tài nguyên thiên nhiên, thay đổi khí hậu, phát triển nông thôn, đô thị hóa bền vững, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Năm 1988, an Liên hính phủ về KH (Intergovernmental Panel on Climate Change - IP ) được thành lập bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO).

ác nhóm công tác của IP về: phương diện khoa học của Hệ thống Khí hậu và 11 KH; ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của KH; phương án hạn chế phát thải KNK và giảm nhẹ KH. Từ năm 1992-1994, UNF đưa ra khung chính sách tổng thể ứng phó với KH [35]. Hội nghị quốc tế về giảm nhẹ thiên tai lần thứ 2 họp tại Kobe (Nhật ản), đã nhất trí thông qua khung hành động Hyogo (HFA) giai đoạn 2005-2015 gồm ba mục tiêu chiến lược, năm hành động ưu tiên và bốn vấn đề cơ bản. Trong đó, hành động ưu tiên là “Sử dụng kiến thức, sáng kiến mới và giáo dục để xây dựng để xây dựng nền văn hóa an toàn và có khả năng phục hồi ở mọi cấp độ” được thể hiện ở hoạt động “Lồng ghép nội dung giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào chương trình học chính thức và không chính thức” [86].

Hội nghị thượng đỉnh LHQ về iến đổi khí hậu OP-21 ở Paris (Pháp) diễn ra từ ngày 30/11 đến ngày 11/12 đã đạt được thỏa thuận tất cả các nước tham gia ông ước khung của Liên hợp quốc về chống biến đổi khí hậu (UNF ) buộc tất cả các nước cắt giảm lượng phát thải khí carbon. LHQ xác định năm 2015 là năm nóng nhất trong lịch sử, và năm 2016 có thể sẽ còn nóng hơn. ựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary linton nhấn mạnh 10 năm tới sẽ là thời kỳ trọng yếu của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. "Nếu chúng ta không thúc đẩy đầu tư phát triển năng lượng sạch và giảm khí thải nhà kính trên phạm vi nền kinh tế toàn cầu thì sẽ không thể tránh được các hậu quả thảm họa".Shaw (2010), Giáo dục là bước đi đầu tiên để tăng khả năng chịu đựng tới những tác động hiện tại và tiềm tàng của KH.

Trong chủ đề 6 “Giáo dục, đào tạo và sự quan tâm của xã hội” (chương trình New elhi), UFN đã xác định giáo dục phải đóng một vai trò quan trọng trong việc đối phó với KH ở cấp độ địa phương, quốc gia và toàn cầu. Ở Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch hành động về KH, kiến thức về KH có trong giáo dục cơ bản, giáo dục đại học, giáo dục người lớn sẽ tập trung vào sự quan tâm và sự tham gia vào các hoạt động liên quan (Yi và Wu, 2009). Ở Thái Lan, hantra Tantipongsanuruk (2009), trường Wat Huay Muang, Nakhonpathom đã nghiên cứu “Phát triển chương trình G KH” bằng cách tích hợp vào môn khoa học và tiếng Thái trong một năm cho 145 học sinh từ mẫu giáo 12 đến lớp 6. Thời gian học tích hợp là một giờ/tuần.

Hai giáo viên dạy môn khoa học và tiếng Thái đã giúp đỡ lẫn nhau để dạy chương trình G KH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ về tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trong dạy học sinh học" trình bày một nghiên cứu sâu sắc về cách thức tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy sinh học. Luận án này không chỉ giúp giáo viên và sinh viên nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường mà còn cung cấp các phương pháp giảng dạy hiệu quả để truyền đạt kiến thức về biến đổi khí hậu. Những lợi ích mà bài viết mang lại cho người đọc bao gồm việc hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa sinh học và môi trường, từ đó áp dụng vào thực tiễn giáo dục.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, hãy tham khảo thêm các bài viết sau đây: Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân nhanh in vitro cây ráy mũi tên lá dài alocasia longiloba, nơi bạn có thể tìm hiểu về công nghệ sinh học ứng dụng trong bảo tồn thực vật, hay Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế, liên quan đến nghiên cứu động vật học và bảo tồn đa dạng sinh học. Cả hai bài viết này đều có liên quan đến giáo dục môi trường và sinh học, giúp bạn mở rộng thêm góc nhìn về các vấn đề sinh thái và bảo vệ môi trường.