Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu khu hệ mollusca gastropoda tại Thừa Thiên Huế, khám phá sự đa dạng và phân bố của loài trong môi trường nước ngọt và trên cạn.

Chuyên ngành

Động Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

209
23
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Nội dung nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.5. Những đóng góp mới của luận án

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Khái quát về lớp Chân bụng

2.1.1. Vị trí, thành phần phân loại học

2.1.2. Hệ thống phân loại trên thế giới

2.2. Tình hình nghiên cứu lớp Chân bụng ở nước ngọt và trên cạn tại Việt Nam và các nước lân cận

2.2.1. Tình hình nghiên cứu về thành phần loài và khu hệ

2.2.1.1. Tình hình nghiên cứu về ốc nước ngọt

2.3. Tình hình nghiên cứu lớp Chân bụng ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

2.3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

2.3.1.1. Vị trí địa lý
2.3.1.2. Thổ nhưỡng. Khí hậu, thủy văn
2.3.1.3. Tài nguyên sinh vật
2.3.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội

3. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2. Vật liệu nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phân chia sinh cảnh và xác định đai cao

3.3.2. Phương pháp thu mẫu

3.3.3. Phương pháp xử lí mẫu và lưu giữ mẫu

3.3.4. Phương pháp phân tích đặc điểm hình thái và định loại

3.3.5. Phương pháp xác định các chỉ số sinh học

3.3.6. Xác định loài ngoại lai xâm hại

3.3.7. Cơ sở xác định các yếu tố địa lý động vật

3.3.8. Cơ sở đề xuất các biện pháp bảo vệ và phát triển bền vững

3.3.9. Phương pháp điều tra phỏng vấn

3.3.10. Xử lý số liệu và phân tích thống kê

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thành phần loài Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

4.1.1. Thành phần loài Chân bụng ở nước ngọt nội địa tại Thừa Thiên Huế

4.1.2. Đặc điểm thành phần loài Chân bụng ở nước ngọt nội địa tại Thừa Thiên Huế

4.1.3. Thành phần loài Chân bụng ở cạn tại Thừa Thiên Huế

4.1.4. Đặc điểm thành phần loài Chân bụng ở cạn tại Thừa Thiên Huế

4.1.5. So sánh đa dạng thành phần loài Chân bụng giữa môi trường nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế. Phát hiện mới

4.1.6. Loài ngoại lai xâm hại

4.2. Cơ sở dữ liệu và khóa định loại các loài Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

4.2.1. Cơ sở dữ liệu và khóa định loại các loài Chân bụng ở nước ngọt nội địa tại Thừa Thiên Huế

4.2.2. Cơ sở dữ liệu và khóa định loại các loài Chân bụng ở cạn tại Thừa Thiên Huế

4.3. Đặc điểm phân bố của lớp Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

4.3.1. Phân bố theo sinh cảnh. Phân bố theo độ cao. Phát triển theo hướng bền vững khu hệ Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

4.4. Tình hình khai thác, sử dụng các loài Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

4.4.1. Định hướng sử dụng các loài Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

4.4.2. Nhân tố đe dọa đến khu hệ Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

4.4.3. Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển theo hướng bền vững khu hệ Chân bụng ở nước ngọt nội địa và trên cạn tại Thừa Thiên Huế

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lớp Chân bụng Gastropoda

Lớp Chân bụng (Gastropoda) là một trong những lớp phong phú nhất trong ngành Thân mềm (Mollusca), với khoảng 60.000 loài được phân bố rộng rãi ở biển, nước ngọt và trên cạn. Số lượng các loài ốc nước ngọt được mô tả chỉ khoảng 3. Tuy nhiên, các loài này chỉ chiếm từ 70-90% số loài thực tế có trong thiên nhiên. Các loài Chân bụng có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, đóng góp vào chuỗi thức ăn và là nguồn thực phẩm cho nhiều loài động vật khác. Nghiên cứu về lớp Chân bụng tại Việt Nam đã bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX, nhưng thông tin về khu hệ này vẫn còn hạn chế, đặc biệt tại miền Trung và Tây Nguyên. Tỉnh Thừa Thiên Huế, với khí hậu và địa hình đa dạng, là nơi lý tưởng để nghiên cứu về khu hệ sinh thái này.

1.1. Vị trí và thành phần phân loại học

Lớp Chân bụng bao gồm hai nhóm chính là ốcsên trần, được chia thành ba phân lớp chính: Caenogastropoda, Neritimorpha và Heterobranchia. Hệ thống phân loại lớp Chân bụng đã trải qua nhiều thay đổi qua các thời kỳ, từ những phân loại dựa trên hình thái đến những nghiên cứu hiện đại sử dụng sinh học phân tử. Hệ thống phân loại hiện nay do Bouchet và cộng sự đề xuất vào năm 2017 đã cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các taxon và sự tiến hóa của chúng. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề chưa được giải quyết trong phân loại học của lớp này.

II. Tình hình nghiên cứu lớp Chân bụng ở nước ngọt và trên cạn tại Việt Nam

Nghiên cứu về Chân bụng ở nước ngọt và trên cạn tại Việt Nam đã được thực hiện từ thế kỷ XIX, với nhiều công trình ghi nhận các loài và khu hệ. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào khu vực phía Bắc và một phần phía Nam, trong khi miền Trung như Thừa Thiên Huế vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng Chân bụng có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, nhưng thông tin về thành phần loài và phân bố còn hạn chế. Việc nghiên cứu khu hệ sinh thái này là cần thiết để cung cấp cơ sở khoa học cho bảo tồn và phát triển bền vững.

2.1. Tình hình nghiên cứu về thành phần loài

Các nghiên cứu về thành phần loài Chân bụng ở nước ngọt và trên cạn đã chỉ ra sự đa dạng cao của nhóm này. Tuy nhiên, số lượng loài được ghi nhận vẫn chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú của chúng trong thiên nhiên. Đặc biệt, các loài Chân bụng có giá trị kinh tế và sinh thái như ốc núi và ốc nhồi cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Việc xác định và phân loại các loài này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về khu hệ sinh thái mà còn góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật tại Thừa Thiên Huế.

III. Đặc điểm sinh thái và phân bố của Chân bụng

Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái và phân bố của Chân bụng tại Thừa Thiên Huế cho thấy sự phân bố của chúng có sự liên quan chặt chẽ đến các yếu tố môi trường như độ cao, loại hình sinh cảnh và điều kiện khí hậu. Các loài Chân bụng thường xuất hiện ở những khu vực có độ ẩm cao, đất mùn và nguồn nước sạch. Sự đa dạng về môi trường sống tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều loài khác nhau, từ đó hình thành nên một khu hệ sinh thái phong phú. Việc phân tích đặc điểm phân bố giúp xác định những khu vực cần được bảo vệ và phát triển bền vững.

3.1. Phân bố theo sinh cảnh

Phân bố của các loài Chân bụng ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các sinh cảnh. Những khu vực có nước ngọt như sông, hồ, và các vùng đất ẩm ướt thường là nơi tập trung nhiều loài hơn so với các khu vực khô hạn. Sự đa dạng này không chỉ phản ánh sự phong phú của khu hệ sinh thái mà còn cho thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn các môi trường sống tự nhiên, nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.

IV. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ Chân bụng

Để bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ Chân bụng tại Thừa Thiên Huế, cần có các giải pháp cụ thể nhằm bảo vệ môi trường sống và tăng cường nhận thức cộng đồng về vai trò của chúng trong hệ sinh thái. Việc quản lý khai thác hợp lý và áp dụng các biện pháp bảo tồn cần được thực hiện để ngăn chặn sự suy giảm số lượng và đa dạng của các loài này. Đồng thời, nghiên cứu cần được đẩy mạnh để cập nhật thông tin về thành phần loài và phân bố, từ đó có những chính sách phù hợp trong bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật.

4.1. Giải pháp bảo tồn

Các giải pháp bảo tồn cần bao gồm việc thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên, tổ chức các chương trình giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường và khuyến khích phát triển bền vững. Cần chú trọng đến việc theo dõi và đánh giá tình trạng của các loài Chân bụng, từ đó có thể đưa ra các biện pháp kịp thời nhằm bảo vệ chúng khỏi các yếu tố đe dọa như ô nhiễm môi trường và khai thác quá mức. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần quan trọng vào việc duy trì sự đa dạng sinh học và bảo vệ khu hệ sinh thái tại Thừa Thiên Huế.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu là công trình nghiên cứu về trai ốc khu vực châu Á của Eydoux (1838) đã phát hiện loài Cyclostoma gibbum ở Đà Nẵng, Việt Nam [158]. Tiếp theo Souleyet (1841-1842) tổng hợp về khu hệ ốc cạn ở Đông Dương đã phát hiện 4 loài mới ở Đà Nẵng, gồm Haploptychius deflexus, Perrottetia aberrata, Bradybaena touranensis, Megaustenia tecta [159]. Năm 1862, 1863 Pfeiffer đã công bố những dẫn liệu đầu tiên về ốc cạn ở vùng Nam Bộ như: Streptaxis ebuneus, S. sinuosus, Nanina cambojiensis, N.

distincta, Nesta cochinchinensis, Trochomorpha saigonensis. Các công trình công bố về ốc cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ còn được bổ sung bởi các tác giả như: Crosse & Fischer (1863, 1864) [151], [152], [153] Crosse (1867) [150] công bố 39 loài ốc ở cạn ở Nam Bộ và Trung Bộ, trong số này mô tả 5 loài mới cho khoa học (Ariophanta weinkauffiana, Macrochlamys benoiti, Geotrochus saigonensis, Cyclophorus annamiticus và Cyclotus gassiesianus). Năm 1886, Morlet tập hợp và công bố 87 loài ốc cạn, chủ yếu ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, trong đó phát hiện 11 loài mới [164]. Trong thời gian 1887 và 1889, Mabille tiến hành khảo sát ở Nam Bộ và Bắc Bộ, đã bổ sung 38 loài mới cho khoa học [162], [163].

Trong hai năm 1891-1892, Morlet mở rộng phạm vi khảo sát trên toàn khu vực Đông Dương. Kết quả nghiên cứu đã mô tả nhiều loài mới ở khu vực này. Trong đó, ở Việt Nam tác giả đã bổ sung 11 loài và mô tả 20 loài mới [165], [166], [168], [167]. Những dẫn liệu của Morlet được xem như tổng kết sơ bộ về thành phần loài ở khu vực Đông Dương tại thời điểm đó.

Trong đó tổng số loài ở Việt Nam là 118 loài. Công trình tổng kết của Fischer (1891) về khu hệ TMCB Đông Dương (Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam); tác giả đã thông báo có tới 309 loài ốc ở cạn được phát hiện ở khu vực này. Trong đó, trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam có 165 loài [160]. 11 Sau công trình của Fischer, hàng loạt các công trình được công bố ở Việt Nam, phạm vi khảo sát được mở rộng ra một số đảo, nhiều loài mới được mô tả như: Smith (1893, 1896) mô tả 6 loài mới ở Trung Bộ và 2 loài mới ở Bắc Bộ [126], [127]; Dautzenberg (1893) mô tả 8 loài mới ở phía Bắc [155]; Möllendorff (1900-1901), mô tả tới 82 loài mới ở phần đất liền và một số đảo ven bờ như đảo Ba Mùn, Cái Bầu [177], [178]; Gude (1901, 1907, 1909) mô tả 19 loài mới thuộc họ Plectopylidae ở vùng núi phía Bắc [78], [79], [80].

Trong khoảng thời gian (1899-1915), Bavay & Dautzenberg tiến hành mở rộng các khảo sát khu vực Đông Dương, trong đó ở Việt Nam phạm vi chủ yếu từ vùng núi đá vôi phía Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu). Các tác giả đã mô tả thêm 140 loài mới cho khoa học [143], [144], [145], [146], [147], [148], [149]. Mặc dù việc thu mẫu vật rất khó khăn, chỉ thu được ở nơi giao thông thuận tiện, nơi đóng quân của binh lính, điều này cho thấy thấy tiềm năng đa dạng của nhóm động vật này là rất lớn. Dẫn liệu về nhóm ốc ở cạn được Fischer & Dautzenberg (1904) công bố trong báo cáo tổng kết của đoàn khảo sát Pavie thực hiện ở lưu vực sông Mê Kông bao gồm 372 loài, trong đó ốc Mang trước (Prosobranchia) có 108 loài, ốc Có phổi (Pulmonata) có 264 loài [161].

Có thể xem đây là tài liệu cơ bản nhất về khu hệ TMCB ở cạn khu vực Đông Dương nói chung. Các năm tiếp theo, còn có thêm một số tác giả nghiên cứu bổ sung thêm các loài mới phát hiện hoặc mô tả thêm các loài mới cho khoa học như: Dautzenberg & Fischer (1905-1908), bổ sung nhiều loài cho khu hệ Việt Nam và mô tả 25 loài mới cho khoa học [156], [157]; Saurin (1953) mô tả 11 loài mới ở Lào [171]. Có thể nhận thấy các công trình công bố về ốc cạn ở Việt Nam và các nước lân cận trong giai đoạn giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là nền tảng cho các nghiên cứu sau này, nhiều loài mới được mô tả lần đầu đã chứng tỏ khu hệ ốc cạn ở khu vực này rất đa dạng và phong phú, thể hiện rõ ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và thảm thực vật chiếm diện tích lớn. Các tác giả Morlet (1886, 1891, 1892), Dautzenberg & Hamonville (1887), Dautzenberg (1893), Bavay & Dautzenberg (1899, 1900, 1901, 1903), Fischer & Dautzebrg (1905) là 12 những tác giả có nhiều công trình đóng góp cho nghiên cứu ốc cạn trong giai đoạn này.

Trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, các nghiên cứu bắt đầu sớm ở phía Nam và muộn hơn ở vùng núi phía Bắc. Số lượng loài sơ bộ đã được công bố có tới 579, trong đó có 118 loài Mang trước và 461 loài Có phổi (Bảng 1. * Các nghiên cứu sau năm 1954 Giai đoạn sau năm 1954 chủ yếu là các công trình nghiên cứu riêng về ốc ở cạn ở các nước khác nhau trong khu vực. Mức độ tiến hành các khảo sát cũng khác nhau: Khu hệ ốc ở cạn ở Lào được nghiên cứu khá đầy đủ, với các công trình tiêu biểu như: Panha và cs.

(2002) [116], Maassen (2008) [92], Inkhavilay và cs. (2016) [81] và Páll-Gergely và cs. Năm 2019, Inkhavilay và cs. tổng kết khu hệ ốc ở cạn ở Lào dựa vào nguồn mẫu được thu thập từ bảo tàng và nguồn mẫu mới thu thập.

Tổng số loài đã xác định được là 230 (61 loài thuộc phân lớp Prosobranchia, và 169 thuộc phân lớp Heterobranchia), trong đó có 221 loài có hình ảnh minh họa. Có 58 loài được ghi nhận mới và 2 loài tên thay thế mới được đề xuất là Hemiplecta lanxangnica và Chloritis khammouanensis. Bốn loài thuộc giống Amphidromus mới được mô tả gần đây gồm A. phuonglinhae được xem là tên đồng vật của các mô tả trước đây.

Thêm vào đó có 13 loài được liệt kê vào danh sách tuy nhiên chưa chắc chắn [82]. Đây là tài liệu có giá trị tổng kết đầy đủ nhất thành phần loài ốc ở cạn cho tới nay tại Lào. Các dẫn liệu về ốc ở cạn ở Campuchia còn rất hạn chế và chưa có công trình tổng kết khu hệ ốc ở cạn ở nước này. Các nghiên cứu được công bố bởi Vermeulen và cs.

(2007, 2019a, b) [140], [137], [138] mới chỉ tập trung vào một số giống, họ và công bố loài mới. Gần đây nhất công trình của Sutcharit và cs. Công trình này cũng chỉ mới tổng kết khu hệ ốc ở cạn ở phía Nam của đất nước này. 13 Khu hệ ốc ở cạn ở Malaysia được khảo sát khá đầy đủ.

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình đánh giá tổng kết cho khu hệ ốc ở cạn ở đất nước này. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Maassen (2001) ghi nhận 535 loài ốc ở cạn [90], Vermeulen và cs. (2015) công bố 48 loài mới cho khoa học [136], Foon và cs. (2017) tổng kết khu hệ ở ở vùng núi đá vôi Perak, Peninsular với 122 loài được ghi nhận tại khu vực này [77], Phung và cs.

Khu hệ ốc ở cạn ở Thái Lan được nghiên cứu đầy đủ nhất với các công trình tiêu biểu như: Solem (1965, 1966) [128], [129], Panha (1995, 1996) đã công bố 421 loài và phân loài, thuộc 133 giống, 30 họ [114], Siriboon và cs. Panha và cs. Đây được xem là tài liệu mang tính chất tổng kết đầy đủ nhất về khu hệ ốc ở cạn ở Thái Lan. Như vậy, có thể nhận thấy khu hệ ốc ở cạn tại các nước lân cận Việt Nam giai đoạn này được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau.

Các nước như Thái Lan, Lào, Malaysia được nghiên cứu khá đầy đủ. Tuy nhiên, chỉ có khu hệ ốc ở cạn ở Thái Lan và Lào đã có công trình đánh giá tổng kết. Dẫn liệu về ốc ở cạn ở Campuchia còn rất hạn chế và chưa có đánh giá tổng kết cho khu hệ ốc ở cạn ở nước này. Trong thời gian 1954-2003, do thiếu chuyên gia về lĩnh vực ốc cạn, các nghiên cứu hầu như chưa được tái lập ở Việt Nam.

Rải rác có một vài công trình của Szekeres (1969-1970) công bố 4 loài mới ở Ninh Bình và Nghệ An [180], [181]; Varga (1972) phát hiện 4 loài mới từ Ninh Bình và Vĩnh Phúc [182]; Loosjes & Loosjes (1973) công bố 2 loài mới ở Hòa Bình và Ninh Bình [88]. Đến năm 2003, Vermeulen & Maassen công bố danh sách các loài ốc cạn và một số ít ốc nước ngọt ở 5 địa điểm khảo sát (Pù Luông, Cúc Phương, Phủ Lý, Cát Bà và Hạ Long). Trong công bố này chỉ ở một vài địa điểm khảo sát, nhưng có tới 310 loài được phát hiện, tuy nhiên có 142 taxon chưa xác định tên loài, điều này cho thấy khu hệ ốc cạn ở phía Bắc Việt Nam rất phong phú còn rất ít được biết đến [139]. Những năm sau này được bổ sung bởi các công trình nhỏ lẻ về từng nhóm loài được công bố trên 14 phạm vi thế giới như: Maassen (2006) [91], Maassen & Gittenberger (2007) phát hiện 7 loài mới ở Bắc Bộ [93]; Vermeulen và cs.

Tập hợp kết quả các công trình đã công bố trong 3 giai đoạn: trước năm 1900, 1900-1975 và sau năm 1975, Đặng Ngọc Thanh (2008) đã đánh giá tình hình và kết quả điều tra thành phần loài ốc cạn ở Việt Nam với danh sách gồm 776 loài và phân loài ốc cạn. Thành phần ốc Có phổi chiếm đa số; các giống chiếm nhiều loài nhất là: Clausilia (63 loài), Plectopylis (29 loài), Microcystina (28 loài) và Camaena (20 loài). Thành phần loài ốc Có mang ở cạn có số lượng loài ít hơn ốc Có phổi, song cũng có tới 112 loài [38]. Đây là công trình thống kê đầy đủ nhất về thành phần loài trong 3 giai đoạn: trước năm 1900, 1900-1975 và sau năm 1975.

Tuy nhiên, do danh sách loài được thống kê từ tài liệu cũ, chưa sắp xếp lại hệ thống phân loại, nhiều tên loài là synonym, vì vậy danh sách loài trên cần được tu chỉnh lại. Sau công bố của Đặng Ngọc Thanh (2008), đến năm 2011, Schileyko, một chuyên gia về Thân mềm trên cạn của Nga tập hợp các tài liệu đã công bố từ trước đến giai đoạn này về ốc cạn Có phổi (Pulmonata) ở Việt Nam, kết hợp đến một số Bảo tàng xem lại mẫu và tu chỉnh lại các loài. Kết quả, tác giả đã công bố danh sách 477 loài thuộc 96 giống, 20 họ cho khu hệ ốc cạn Có phổi của Việt Nam [122]. Có thể đánh giá đây là công trình đầy đủ nhất, tu chỉnh lại toàn bộ các loài thuộc phân lớp ốc Có phổi (Pulmonata) ở nước ta làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ "Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế" của tác giả Bùi Thị Chính, dưới sự hướng dẫn của GS. Ngô Đắc Chứng và PGS. Đỗ Văn Nhượng, được thực hiện tại Trường Đại Học Sư Phạm, Đại Học Huế vào năm 2022. Nghiên cứu này tập trung vào việc khám phá và phân tích khu hệ động vật thân mềm chân bụng (Mollusca: Gastropoda) trong môi trường nước ngọt và trên cạn tại khu vực Thừa Thiên Huế. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học của khu hệ này mà còn góp phần vào việc bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực sinh học và quản lý đa dạng sinh học, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu giải pháp quản lý đa dạng sinh học vùng triều rạn đá ở các đảo tiêu biểu vùng biển Đông Bắc Việt Nam. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và hóa học tinh dầu chi gừng và chi ngải tiên thuộc họ Gừng ở Bắc Trung Bộ cũng sẽ mang lại những thông tin bổ ích về sinh học thực vật, liên quan đến nghiên cứu động vật học. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ về mối liên quan giữa kiểu gen và kiểu hình trong bảo tồn chó Phú Quốc sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố di truyền trong bảo tồn sinh học. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan đến sinh học và bảo tồn.