Luận văn đa dạng bò sát và ếch nhái ở Trạm ĐDSH Mê Linh - Trần Đại Thắng

Dưới đây là meta tags được tạo cho bài viết: { "ai_description": "Đánh giá sự đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài bò sát và ếch nhái tại trạm đa dạng

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng bò sát và ếch nhái tại Mê Linh Vĩnh Phúc

Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm ở phía bắc tỉnh Vĩnh Phúc, có hệ sinh thái rừng nhiệt đới phục vụ nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực. Bộ Bò sát và lớp Ếch nhái là hai nhóm động vật có xương sống có vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, đồng thời là chỉ số đánh giá mức độ lành mạnh của hệ sinh thái. Từ trước năm 2014, các nghiên cứu về nhóm động vật này tại khu vực Mê Linh còn hạn chế, chủ yếu là khảo sát ngắn hạn không có số liệu đầy đủ về thành phần loài và đặc điểm phân bố. Luận văn thạc sĩ của Trần Đại Thắng được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống thông tin này, cung cấp dữ liệu khoa học cho công tác quản lý, bảo tồn tài nguyên sinh vật khu vực.

1.1. Lịch sử nghiên cứu bò sát và ếch nhái tại Việt Nam và khu vực Mê Linh

Các nghiên cứu về bò sát và ếch nhái Việt Nam bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, với các công trình của các nhà động vật học nước ngoài như Bourret, Smith. Tại khu vực Mê Linh, các khảo sát trước năm 2014 chủ yếu ghi nhận một số loài phổ biến, không có đánh giá toàn diện về sự đa dạng loài. Nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng chưa được ghi nhận đầy đủ do hạn chế về thời gian và phương pháp khảo sát. Các nghiên cứu trước đó cũng chưa phân tích rõ đặc điểm phân bố của các loài theo các loại hệ sinh thái khác nhau trong khu vực trạm.

1.2. Đặc điểm tự nhiên của Trạm đa dạng sinh học Mê Linh

Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có diện tích khoảng 20.000 ha, nằm ở độ cao 200-1000 m so với mực nước biển. Khu vực có kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình năm 1.600 mm, nhiệt độ trung bình năm 23 độ C. Hệ sinh thái chủ yếu là rừng nhiệt đới trên núi đá vôi, xen kẽ với các bãi cỏ, suối nhỏ. Đa dạng các loại hệ sinh thái tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sống của nhiều loài bò sát và ếch nhái khác nhau.

II. Phân tích thành phần loài và đặc điểm phân bố bò sát ếch nhái tại Mê Linh

Kết quả nghiên cứu của luận văn ghi nhận tổng cộng 32 loài bò sát và 21 loài ếch nhái tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, trong đó có 5 loài được ghi nhận mới tại khu vực này. Các loài phân bố chủ yếu ở vùng rừng thứ sinh và ven suối, ít xuất hiện ở các khu vực có hoạt động du lịch, khai thác gỗ. Thành phần loài ếch nhái chiếm tỷ lệ cao hơn bò sát, trong đó họ Ếch nhái chân ngón dài Ranidae có số loài nhiều nhất. Sự đa dạng loài có sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực khảo sát, với mật độ loài cao nhất ở khu vực rừng nguyên sinh ít bị can thiệp bởi hoạt động con người.

2.1. Đặc điểm phân bố các loài ếch nhái tại khu vực trạm

Các loài ếch nhái tại Mê Linh phân bố chủ yếu ở các khu vực có nguồn nước ổn định như suối, ao nhỏ, vùng đất ngập nước sau mưa. Nhiều loài như ếch xanh Hylarana taipehensis, ngóe Fejervarya limnocharis có khả năng thích nghi cao, xuất hiện cả ở các khu vực có hoạt động nông nghiệp nhỏ của người dân địa phương. Các loài ếch sống trong rừng như ếch cây Rhacophoridae thường phân bố ở tán cây cao, ít xuất hiện ở vùng đất thấp. Sự phân bố của các loài ếch nhái phụ thuộc nhiều vào độ ẩm, nhiệt độ và loại hệ sinh thái.

2.2. Đặc điểm phân bố các loài bò sát tại khu vực trạm

Các loài bò sát tại Mê Linh phân bố rộng trong các khu vực rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh và ven đường mòn. Các loài thằn lằn như thằn lằn tốt mã Plestiodon quadrilineatus thường sống ở vùng có tán cây thưa, thường xuyên ra đường mòn để tắm nắng. Các loài rắn như rắn hổ mang chúa có phân bố hẹp hơn, thường sống ở vùng rừng sâu ít bị can thiệp. Nhiều loài bò sát ăn côn trùng có mật độ cao ở các khu vực có nhiều tài liệu thực vật, nơi có nguồn thức ăn dồi dào.

III. Các giải pháp bảo tồn sự đa dạng bò sát và ếch nhái tại Mê Linh

Hiện nay, sự đa dạng bò sát và ếch nhái tại Trạm Mê Linh đang đối mặt với nhiều nguy cơ từ hoạt động khai thác gỗ, du lịch trái phép, ô nhiễm môi trường. Một số loài có nguy cơ tuyệt chủng ở khu vực này như rắn hổ mang, ếch cây đã được ghi nhận trong nghiên cứu. Để bảo tồn nhóm động vật này, cần thực hiện các giải pháp như tăng cường quản lý rừng, hạn chế hoạt động khai thác tài nguyên trái phép, xây dựng các hành lang sinh học kết nối các khu vực rừng phân mảnh. Đồng thời, cần tổ chức các chương trình giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân địa phương và du khách về tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài bò sát, ếch nhái.

3.1. Các yếu tố đe dọa đến sự đa dạng loài bò sát và ếch nhái tại khu vực

Các yếu tố đe dọa chính bao gồm mất môi trường sống do khai thác gỗ, chuyển đổi đất rừng làm nông nghiệp, ô nhiễm nước từ hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Hoạt động săn bắt trái phép để lấy thịt, da hoặc làm vật nuôi cũng làm giảm mật độ nhiều loài có giá trị. Biến đổi khí hậu gây thay đổi chu kỳ sinh sản của các loài ếch nhái, làm giảm tỷ lệ sống sót của giai đoạn bột. Các hoạt động du lịch không được quản lý cũng làm gián đoạn môi trường sống của nhiều loài sống ở vùng ven đường.

3.2. Giải pháp kỹ thuật và quản lý bảo tồn hiệu quả

Về giải pháp kỹ thuật, cần thực hiện khảo sát định kỳ về thành phần loài và mật độ phân bố để cập nhật dữ liệu kịp thời. Xây dựng các khu bảo tồn nhỏ trong khu vực trạm để bảo vệ các loài có nguy cơ cao. Về quản lý, cần siết chặt các quy định về khai thác tài nguyên rừng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tổ chức các chương trình giáo dục cộng đồng, tuyên truyền về tầm quan trọng của nhóm động vật này cho người dân địa phương và du khách tham quan trạm.

IV. Kết luận và ứng dụng kết quả nghiên cứu cho quản lý Mê Linh

Luận văn đã cung cấp bộ dữ liệu đầy đủ về thành phần loài và đặc điểm phân bố của bò sát và ếch nhái tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, khẳng định khu vực này có sự đa dạng loài cao, là môi trường sống quan trọng của nhiều loài động vật có nguy cơ. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để ban quản lý trạm xây dựng kế hoạch quản lý, bảo tồn tài nguyên sinh vật phù hợp. Các dữ liệu về phân bố loài cũng giúp xác định các khu vực cần ưu tiên bảo vệ, hạn chế hoạt động con người ở các khu vực có mật độ loài cao. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau về đa dạng sinh học khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa khoa học của kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm dữ liệu về thành phần loài bò sát và ếch nhái cho khoa học Việt Nam, đặc biệt là khu vực miền núi phía Bắc. Việc ghi nhận các loài mới tại khu vực Mê Linh giúp làm rõ phạm vi phân bố của các loài, đánh giá đúng tình trạng bảo tồn của chúng. Các số liệu về đặc điểm phân bố loài theo các loại hệ sinh thái cũng là cơ sở để so sánh sự đa dạng loài giữa các khu vực sinh học khác nhau ở Việt Nam.

4.2. Ứng dụng thực tiễn cho công tác quản lý và bảo tồn tại Trạm Mê Linh

Ban quản lý Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có thể sử dụng bộ dữ liệu loài của luận văn để xây dựng kế hoạch giám sát định kỳ tài nguyên sinh vật, xác định các khu vực cần ưu tiên bảo vệ. Các thông tin về phân bố loài có nguy cơ giúp ban quản lý đưa ra các biện pháp hạn chế hoạt động con người ở những khu vực nhạy cảm. Ngoài ra, dữ liệu nghiên cứu cũng hỗ trợ việc xây dựng các chương trình giáo dục sinh học cho du khách và người dân địa phương, nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn thạc sĩ đánh giá sự đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài bò sát reptilia và ếch nhái amphibia tại trạm đa dạng sinh học mê linh tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng đợt điều tra do đoàn của Đào Văn Tiến ở tỉnh Quảng Trị đã thống kê được 1 loài ếch nhái, 7 loài thằn lằn, 4 loài rắn và 2 loài rùa, trong đó có một loài rùa mới Annamensis grrochovkiae (nay là Mauremys mutica) (Đào Văn Tiến, 1957, 1960) [10]. Nguyễn Văn Sáng và cs. Ở Miền Nam có công trình khảo sát về rắn của Campden-Main, thống kê được 77 loài rắn (Campden-Main, 1970) [21]. Năm 1972, Saint Girons công bố 38 loài rắn thuộc sưu tập rắn của Morice sưu tầm ở Nam Bộ năm 1873 và 1874 hiện lưu giữ ở Bào tàng Lịch sử tự nhiên Li-on (Pháp) [41].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Thời kỳ thứ ba Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã thống kê được 82 loài ếch nhái và 258 loài bò sát [7]. Lathrop et al. (1998) đã công bố 4 loài mới Leptobrachium xanthospilum, L.

banae, Leptolalax sungi, L. nahangensis ở Gia Lai, Tam Đảo và Na Hang [35, 36]. Ziegler et al. Orlov et al.

Bain et al. Đến năm 2005, số lượng các loài bò sát và ếch nhái đã tăng gấp đôi với 162 loài ếch nhái và 295 loài bò sát, với khoảng 50 loài bò sát được ghi nhận mới (so với năm 1996) (Nguyễn Văn Sáng và cs. Nguyen et al. Từ đó đến nay đã có hàng loạt loài mới và ghi nhận mới ở Việt Nam, trong đó có khoảng 28 loài ếch nhái như: Leptolalax applebyi (Rowley et al., 2009) [78]; Odorrana geminata (Bain et al., 2009) [15], Theloderma lateriticum (Bain et al., 2009) [16]; Leptolalax aereus (Rowley et al., 2010) [79]; Leptolalax croceus (Rowley et al.,2010) [80]; Rhacophorus vampyrus (Rowley et al., 2010) [81]; Leptobrachium leucops (Stuart et al., 2011) [90]; Leptolalax bidoupensis (Rowley et al., 2011) [82]; Leptolalax nyx (Ohler et al., 2011) [68]; Theloderma palliatum và T.

nebulsum (Rowley et al., 2011) [83]; Gracixalus quangi (Rowley et al., 2011) [84]; Leptolalax firthi (Rowley et al., 2012) [85]; Graxixalus waza (Nguyen et al.,2012 [60]; Rhacophorus robertingeri (Orlov et al., 2012) [74]; Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa et Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www., 2012)[66]; Kaloula indochinensis (Chan et al., 2013)[20]; Leptolalax botsfordi (Rowley., 2013 [87]; Oreolalax sterlingae (Nguyen et al., 2013) [61]; Quasipaa acanthophora (Dubois et al., 2013) [25]; Liuixalus calcarius và Philautus catbaensis (Milto et al., 2013) [40]; Rhacophorus helenae (Rowley et al., 2012) [86]; Rhacophorus lrissae và R., 2013) [76]; Tylototriton ziegleri (Nishikawa et al. Đồng thời có khoảng 40 loài bò sát được mô tả như: Cyrtodactylus cattienensis (Geissler et al., 2009) [27]; Dixonius aaronbaueri (Ngo et al., 2009) [43]; Gekko russelltraini (Ngo et al., 2009) [44]; Calamaria abramovi (Orlov, 2009) [70]; Coloberoelaps nguyenvansangi (Orlov et al., 2009) [71]; Lycodon ruhstrati abditus (Vogel et al., 2009) [94]; Protpbothrops trungkhanhensis (Orlov et al., 2009) [72]; Pseudocalotes ziegler (Hallermann et al., 2010) [30]; Leiolepis ngovantrii (Grismer., 2010) [28]; Cnemaspis psychedelica (Grismer et al., 2010) [29]; Cyrtodactylus bichnganae và C. phuquocensis (Ngo et al., 2010) [46, 47]; Cyrtodactylus roesleri (Ziegler et al., 2010) [101]; Cyrtodactylus yangbayensis (Ngo et al., 2010) [45]; Gekko canhi (Rosler et al., 2010) [88]; Gekko takouensis (Ngo et al., 2010) [48]; Gekko vietnamensis (Nguyen., 2010) [54]; Scincella apraefrontalis và S. darvevskii (Nguyen et al., 2010) [57, 58]; Tropidophorus boehmei (Nguyen et al., 2010) [59]; Calamaria concolor (Orlov et al., 2010) [73]; Calamaria sangi (Nguyen et al., 2010) [56]; Emydocephalus szzerbaki (Dotsenko., 2010) [24]; Acanthosaura brachypoda (Ananjeva et al., 2011) [13]; Cyrtodactylus cucphuongensis (Ngo et al., 2011) [50]; Cyrtodactylus huongsonensis (Luu et al., 2011) [37]; Cyrtodactylus martini (Ngo, 2011) [49]; Gekko canaensis ( Ngo et al., 2011) [51]; Gekko truongi (Phung et al., 2011) [77]; Sphenomorphus sheai (Nguyen et al., 2013) [63]; Opisthotropis cucae (David et al., 2011) [22]; Trimeresurus rubeus (Malhotra et al., 2011) [38]; Cyrtodactylus bidoupimontis và C.

bugiamapensis (Nazanov et al., 2012) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 [42]; Cyrtodactylus thochuensis (Ngo et al., 2012) [52]; Oligodon nagao (David et al., 2012) [23]; Hopmalopis mereljcoxi (Murphy et al., 2012 [39]; Calotes bachae (Hartmann et al., 2013) [31]; Cyrtodactylus dati (Ngo, 2013) [53]; Gekko adleri (Nguyen et al., 2013) [62]; Hemiphyllodactylus zugi (Nguyen et al., 2013) [64]; Oligodon cattienensis (Vassilieva et al. Sự đa dạng của bò sát và ếch nhái ở Việt Nam qua các thời kỳ Cùng với việc phát hiện các loài mới và ghi nhận mới thành phần loài bò sát và ếch nhái ở nhiều khu hệ cũng được nghiên cứu tương đối đầy đủ như: Hecht et al. Ziegler et al. Ziegler et al.

Một số nghiên cứu về bò sát và ếch tại Trạm ĐDSH Mê Linh Theo kết quả nghiên cứu của Phòng động vật có xương sống (2001), đã ghi nhận ở Trạm ĐDSH Mê Linh có 14 loài (8 loài bò sát, 6 loài ếch nhái). Đến năm 2003, trong đợt nghiên cứu giám sát Phòng động vật có xương sống đã ghi nhận 27 loài thuộc 12 họ (14 loài bò sát, 13 loài ếch nhái) [11]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Đặc điểm tự nhiên, xã hội khu vực Trạm ĐDSH Mê Linh 1.Vị trí địa lý Trạm ĐDSH Mê Linh, Vĩnh Phúc thuộc địa bàn của xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Cách trung tâm thị xã Phúc Yên khoảng 35 km về phía Bắc. Trạm nằm ở phía Đông nam dãy núi Tam Đảo, là nơi có địa hình dốc trung bình ở độ cao từ 50–550 m so với mực nước biển. Với diện tích trên 170 ha trong đó chiều dài khoảng 3.000 m, chiều rộng trung bình khoảng 550 m (chỗ rộng nhất khoảng 800 m, chỗ hẹp nhất khoảng 300 m). Khu vực Trạm có toạ độ: 21o23’57’’ - 21o23’35’’ vĩ độ Bắc 105o42’40’’ - 105o42’40’’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên; phía Tây giáp vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc [4].

Địa hình Đây thuộc vùng bán sơn địa ở phía Bắc thị xã Phúc Yên, là phần kéo dài về phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp theo hướng từ Bắc xuống Nam. Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 15- 30o, nhiều nơi dốc đến 30-35o, điểm cao nhất là 520 m (điểm cực đông thuộc đỉnh núi Đá trắng). Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theo ven suối phía Tây [4].Thổ nhưỡng Đất gồm 2 loại chủ yếu: + Ở độ cao trên 400 m đất feralitic màu vàng phát triển trên đá sa thạch cuội hoặc dăm kết. + Ở độ cao dưới 400 m đất feralitic màu vàng đỏ phát triển trên sa phiến thạch.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Ngoài ra, còn có đất dốc tụ phù sa ở ven các suối lớn ở độ cao dưới 100 m. Đất thuộc loại chua có pH = 5,0-5,5, thành phần cơ giới trung bình, độ dày tầng đất khoảng 30-40 cm [4]. Khí hậu, thủy văn Trạm Mê Linh thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nằm trong vùng khí hậu chung của đồng bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình hàng năm là 24oC, tập trung không đều, tháng có nhiệt độ cao là tháng 6, tháng 7 và tháng 8. Còn mùa lạnh vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2.

Nhiệt độ các tháng nóng nực lên đến 40oC. Nhìn chung nhiệt độ trung bình vào mùa hè từ 27-29oC, trung bình vào mùa đông là 16-17oC.600 mm/năm, phân bố không đều, tập trung vào mùa hè từ tháng 6-8 hàng năm, ở đây có 2 mùa gió thổi rõ rệt là gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến 3 năm sau) và gió mùa Đông Nam (từ tháng 4 đến tháng 9). Độ ẩm trung bình là 81,9% [5]. Là khu vực đầu nguồn của nhiều suối nhỏ đổ vào hồ Đại Lải.

Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh là đầu nguồn của một con suối nhỏ nước chảy quanh năm bắt nguồn từ điểm cực bắc, chạy dọc biên giới phía Tây giáp Vườn Quốc gia Tam Đảo gặp suối Thanh Lộc đổ vào hồ Đại Lải. Ngoài ra còn có một số suối cạn ngắn chỉ có nước sau những trận mưa [4]. Hiện trạng thảm thực vật Theo kết quả nghiên cứu của Lê Đồng Tấn (2003), trong khu vực nghiên cứu có các kiểu thảm thực vật tự nhiên sau: - Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có: Cây gỗ lá rộng: thường là những mảnh nhỏ phân bố rải rác trên các sườn núi ở độ cao 300 m trở lên tại tiểu khu 11 của Trạm ĐDSH Mê Linh. Đây là những khoảnh rừng thứ sinh mới được phục hồi sau khai thác.

- Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có: Cây gỗ lá rộng, rừng nứa xen cây gỗ và rừng giang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 Cây gỗ lá rộng: Là rừng phục hồi sau khai thác kiệt, đất nương rẫy, đất trồng rừng thất bại. Phân bố ở sườn núi trên độ cao từ 200 m trở lên. Rừng nứa xen gỗ: Được hình thành do khai thác quá mức và phục hồi sau nương rẫy.

Kiểu này phân bố ở tiểu khu 11 Trạm ĐDSH Mê Linh, dọc theo suối, đường dông giữa Trạm với Vườn Quốc gia Tam Đảo. - Rừng giang: Là dạng thoái hoá của rừng kín cây lá rộng, kiểu này thường là những khoảnh nhỏ phân bố dọc theo suối ở tiểu khu 11. - Trảng cây bụi thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp: Trảng cỏ: Trảng cỏ dạng lúa trung bình: Có ưu hợp lách (Saccharum spontaneum L.), Chít (Thysanolaena maxima (Roxb.) Kuntze) và Cỏ tranh (Imperata cylindrica (L. Khu vực rừng trồng (khoảng 100 ha) với các loại cây sau: Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana Lamb.), Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh.

& Vriese), Keo tai tượng (Acacia auriculiformis A.), Keo lá tràm (Acacia confusa Merr.), Bạch đàn (Eucalyptus globulus Labill.Tình hình dân sinh kinh tế Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn xã Ngọc Thanh với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 51,8% tổng diện tích tự nhiên của toàn xã. Mật độ dân số của xã là 139 người/km2, dân tộc Kinh chiếm 53%, dân tộc thiểu số (Sán Dìu) chiếm 47%. Thu nhập bình quân đầu người của xã khoảng 3 triệu đồng/người/năm. Trong khu vực nghiên cứu không có người dân sinh sống, tuy nhiên do tập quán của người dân quanh vùng nên rừng trong khu vực nghiên cứu vẫn chịu những tác động tiêu cực như: Thả gia súc sau mùa vụ, lấy củi, lấy măng và khai thác lâm sản ngoài gỗ [5].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 10 CHƢƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.Địa điểm nghiên cứu Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Trạm ĐDSH Mê Linh, xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chúng tôi tiến hành thu mẫu ở các địa điểm sau: - Xung quanh khu vực hành chính. - Dọc theo suối chính từ khu hành chính Trạm đến suối 32 dài khoảng 3 km. - Dọc theo đường mòn trong rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ