Chương 1. Tổng quan tài liệu - Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo 5.
Những đóng góp mới của đề tài Tính mới hấp dẫn trong nghiên cứu này là tổng hợp AgNPs từ dịch chiết lá cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour.) trồng tại Việt Nam. Nghiên cứu trên đối trượng này chưa được nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về nano bạc Theo định nghĩa của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), Nano bạc (AgNPs) là dạng vật chất kim loại bạc ở kích thước nano với đường kính nằm trong khoảng từ 1 – 100nm.
Do kích thước nhỏ như vậy nên diện tích bề mặt tiếp xúc của AgNPs lớn hơn rất nhiều so với nguyên tử bạc thông thường. Chỉ với một hàm lượng nhỏ trong dung dịch ở nồng độ phần triệu (ppm), AgNPs cũng thể hiện hoạt tính một cách hiệu quả. AgNPs là một dạng hạt tồn tại của kim loại bạc. Các hạt này có kích thước nhỏ mà mắt thường không nhìn thấy được.
AgNPs có tỉ lệ diện tích bề mặt lớn hơn hàng triệu lần so với kim loại bạc. Vì vậy, tính chất đặc hiệu của bạc được tăng lên đáng kể. AgNPs có kích thước phổ biển nằm trong khoảng từ 10 – 100nm.3 AgNPs tồn tại dưới dạng dung dịch. Các sản phẩm AgNPs thường được gọi với tên gọi khác là keo bạc.
Điều này khiến nhiều người lầm tưởng dung dịch AgNPs có độ nhớt như dạng keo. Thực tế, dung dịch AgNPs sẽ có độ nhớt tương đương với nước nếu quan sát bằng mắt thường. Màu của dung dịch là màu của AgNPs. Trong khi các dung dịch chất thông thường luôn cố định chỉ thay đổi độ đậm – nhạt màu tùy theo nồng độ thì dung dịch AgNPs thay đổi màu sắc từ vàng tới đỏ sẫm phụ thuộc nồng độ AgNPs.
Dung dịch có màu vàng nhạt với nồng độ 50pp, chuyển sang màu đỏ với nồng độ 500pp và có thể chuyển sang xanh đen khi đạt nồng độ 5000pp. Tính chất đặc biệt này chỉ riêng AgNPs mới có. Do đó, các dung dịch AgNPs trong suốt được quảng cáo trên thị trường thường không chứa các hạt nano hoặc nồng độ rất thấp. AgNPs không tồn tại ở thể rắn nên các loại bột bán trên thị trường đều không hề chứa hạt nano.3 6 AgNP có cấu trúc 3 phần gồm lõi bạc, lớp điện tích trên bề mặt hạt và chất bảo vệ.
Lớp điện tích cùng với chất bảo vệ giúp cấu trúc nano bền hơn đồng thời tạo ra những đặc điểm mà chỉ ở bạc với kích thước nano mới có được. Cấu trúc hạt nano bạc Phần lõi gồm các nguyên tử bạc sắp xếp dạng tinh thể khối với số lượng tùy thuộc vào kích thước và hình dáng hạt AgNPs. Ví dụ 1 hạt AgNPs hình cầu, kích thước hạt là 20nm có thể chứa đến 125.000 hạt nguyên tử bạc. Như vậy chỉ với một kích thước nhỏ cỡ nano mà tập trung được một lượng lớn hoạt chất cho thấy chỉ cần ở nồng độ thấp các hạt AgNPs thể hiện được hoạt tính của mình.
Bề mặt hạt AgNPs là các nguyên tử bạc và ion bạc Ag+ xen kẽ nhau. Tại đó liên tục diễn ra quá trình cân bằng động chuyển đổi giữa các nguyên tử Ag và ion Ag+. Khi gặp các bề mặt có tính oxi hóa như bề mặt virus, vi khuẩn thì ion Ag+ sẽ được tạo ra liên tục từ hạt AgNPs cho hiệu quả tiêu diệt virus, vi khuẩn và nấm cao. Lớp vỏ hạt AgNPs được bao quanh là các phân tử bảo vệ giúp ổn định bề mặt hạt, giữ hạt AgNPs ở kích thước quy định tránh sa lắng và kết tụ.
Ngoài ra, một số loại hạt AgNPs đặc biệt có lớp vỏ bảo vệ có hoạt tính sinh học giúp 7 điều biến tính chất của hạt nano. Ví dụ TSN – phức hợp của hạt AgNPs có chứa lớp vỏ là Tannic acid có ái lực mạnh với các loại virus do đó tăng khả năng bám dính của khối AgNPs vào virus, tạo điều kiện giải phóng nhiều ion Ag+ và tiêu diệt virus. Thành phần cấu tạo hạt AgNPs 1. Các phƣơng pháp điều chế nano bạc Vật liệu nano bạc có thể được điều chế bằng hai phương thức cơ bản: Phương pháp từ trên xuống (top – down) là phương pháp tạo các hạt nano từ vật liệu khối ban đầu.
Vật liệu khối được chia thành các hạt nhỏ bằng cách giảm kích thước bằng các kỹ thuật vật lý và hóa học khác nhau. Các phương pháp từ trên xuống ít được sử dụng, vì AgNPs chế tạo bằng phương pháp này thường có kích thước hạt lớn và không đồng đều. Phương pháp từ dưới lên (bottom-up) là phương pháp tạo hạt nano từ các nguyên tử hoặc ion kết hợp lại với nhau. Đối với hạt AgNPs, người ta thường điều chế bằng phương pháp này.
Nguyên tắc là khử ion Ag thành Ag. Các ion này sau đó liên kết với nhau tạo thành hạt nano và các hạt nano này 8 được bọc bởi các chất ổn định như PVP, PVE, chitosan. Cách tiếp cận này bao gồm các phương pháp sản xuất hóa học và sinh học. Phương pháp vật lý 1.
Kỹ thuật ăn mòn bằng tia laser Bào chế AgNPs bằng phương pháp vật lý RF plasma. Kỹ thuật này sử dụng tia laser với bước sóng ngắn để cắt bỏ kim loại trong dung dịch mà không có thuốc thử hóa học. Phương pháp này cho phép thu được hạt AgNPs tinh khiết. Nồng độ và hình thái của các hạt nano bị ảnh hưởng bởi số lượng chùm tia laser.
Hạt nano thu được thường có kích thước khoảng 10nm. Ngoài ra, có thể sử dụng sóng điện từ năng lượng cao như tia gamma, tia tử ngoại để khử ion kim loại. Dưới tác dụng của các tác nhân này, các chất phụ gia trong dung môi được biến đối để sinh ra các gốc hóa học có tác dụng khử ion thành kim loại. Kỹ thuật hóa lý tạo AgNPs tinh khiết Theo các nghiên cứu gần đây, phương pháp điện phân kết hợp siêu âm có thể dùng để sản xuất ra hạt AgNPs tinh khiết mà không cần sử dụng chất hoạt động bề mặt hoặc chất ổn định.
Bình thường phương pháp điện phân chỉ tạo ra lớp màng kim loại trên bề mặt điện cực. Nhờ có siêu âm, các hạt sẽ rời điện cực và đi vào trong dung môi nước. Kỹ thuật Plasma điện hóa Nguyên lý của phương pháp là sử dụng một dây bạc làm điện cực, nhúng trong dung môi nước. Trong quá trình phóng điện, lớp bề mặt của dây bạc bị ăn mòn và được khử ngay bởi plasma tạo ra các hạt AgNPs.
Ngoài ra, plasma còn giải phóng các electron tích điện âm khiến các hạt AgNPs đẩy 9 nhau, tránh kết tụ. Phương pháp này có thể khử triệt để các ion bạc nên dung dịch AgNPs ổn định lâu dài và an toàn. Các hạt AgNPs tạo ra có kích thước từ 20 – 30 nm. Bào chế AgNPs bằng phƣơng pháp vật lý RF plasma 1.
Phương pháp hóa học Để tổng hợp AgNPs bằng phương pháp hóa học cần sử dụng muối bạc, chất khử và chất ổn định để kiểm soát sự hình thành các hạt nano. Muối bạc nitrat được sử dụng để tạo ra hạt nano do chi phí thấp và ổn định hóa học hơn các muối khác. Các chất khử được sử dụng là borohydrid, citrat, ascorbate và khí hydro. Trong đó borohydrid là một chất khử mạnh có thể tạo ra hạt có kích thước nhỏ với tốc độ khử nhanh.
Đồng thời nó có vai trò như chất ổn định để tránh kết tụ trong quá trình phân hủy. * Phương pháp khử hóa học: Nguyên tắc của phương pháp này là chuyển electron lên ion Ag + để đưa ion về nguyên tử Ag0. Các nguyên tử Ag0 này kết dính với nhau tạo ra hạt Ag có kích thước lớn hơn. Theo phương pháp này, các chất sử dụng gồm nguyên liệu đầu vào chứa ion Ag+ như Ag2SO4, AgNO3 hay AgClO4, và chất khử như muối citrate, borohydride, 10 ascorbic acid, glucose, formaldehyde, ethylene glycol hay dung dịch chiết từ cây.
Phương trình khử Ag + bằng các chất khử NaBH4 , ascorbic acid và citrate có thể được viết gọn như sau: AgNO3 + NaBH4 → Ag + ½ H2 + ½ B2H6 + NaNO3 (1) 2 Ag + + C6H8O6 → 2 Ag0 + C6H6O6 + 2H+ (2) 4 Ag + + Na3C6H5O7 → 4 Ag0 + C6H5O7H3 + 3 Na + + O2 (3) Sự hình thành hạt nano Ag diễn ra theo trình tự từ ion Ag+ đến nguyên tử Ag0 và kết dính lại tạo ra hạt Ag có kích thước vài nm. Ngoài ra để các hạt nano phân tán tốt trong môi trường, người ta có thể sử dụng phương pháp tĩnh điện để làm cho bề mặt các hạt tĩnh điện trái dấu sẽ đẩy nhau, tránh kết tụ. Mặt khác có thể sử dụng các chất hoạt động bề mặt để bọc các hạt nano. Kích thước hạt AgNPs tạo ra nhờ phương pháp này nằm trong khoảng từ 10nm -100nm.
Phương pháp sinh học (tổng hợp xanh hạt nano) Trong các nghiên cứu gần đây, người ta đã chứng minh rằng vi sinh vật và thực vật có thể được sử dụng để tổng hợp các hạt nano theo cách vừa thân thiện với môi trường vừa an toàn khi sử dụng. Vi khuẩn và thực vật có khả năng hấp thụ và lưu trữ các ion kim loại vô cơ từ môi trường. Do đặc tính hấp dẫn của chúng, nhiều sinh vật sống là nhà máy sinh học hiệu quả, giảm thiểu ô nhiễm đồng thời thu hồi kim loại từ chất thải công nghiệp. Khả năng một sinh vật sống sử dụng các quá trình trao đổi chất để biến đổi các ion kim loại vô cơ thành các hạt nano kim loại đã mở ra cánh cửa cho một lĩnh vực nghiên cứu tương đối mới và chủ yếu chưa được khai thác rộng rãi.14 Kể từ khi phát hiện ra khả năng tương tác, loại bỏ và thu thập các nguyên tố kim 11 loại từ môi trường xung quanh của vi khuẩn, một số ứng dụng công nghệ sinh học, chẳng hạn như xử lý sinh học và lọc sinh học đã được phát triển.
15 Chúng có thể tương tác với môi trường nhờ màng lưỡng tính dựa trên lớp lipid kép, cho phép diễn ra nhiều quá trình oxy hóa-khử khác nhau và thúc đẩy các biến đổi sinh hóa.16 Các vi sinh vật phát triển trong những môi trường cụ thể cũng có thể đẩy nhanh quá trình oxy hóa và khử liên kết trong quá trình hình thành hạt nano.17 Tuy nhiên, cơ chế oxy hóa - khử vẫn chưa được con người biết đến.