Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả các mô hình trồng rừng sản xuất tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 2018

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của các mô hình trồng rừng sản xuất tại huyện Văn Lãng tỉnh Lạng Sơn. Phân tích ưu nhược điểm các loại rừng Thông

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình trồng rừng sản xuất tại Văn Lãng

Huyện Văn Lãng thuộc tỉnh Lạng Sơn là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp lớn, chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu sử dụng đất. Trồng rừng sản xuất tại Văn Lãng được triển khai từ nhiều năm với các loại cây chủ yếu gồm Thông mã vĩ, Bạch đàn và Keo. Các mô hình trồng rừng này đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gia đình, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Nghiên cứu của Đinh Long Xuyên (2018) tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã đánh giá toàn diện hiệu quả kinh tế, xã hội của các mô hình trồng rừng sản xuất trên địa bàn. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về năng suất, trữ lượng và hiệu quả đầu tư giữa các loại rừng trồng. Việc đánh giá hiệu quả mô hình trồng rừng sản xuất tại Văn Lãng giúp nhà quản lý và người dân có cơ sở khoa học để lựa chọn loại cây phù hợp, tối ưu hóa lợi nhuận từ đất lâm nghiệp.

1.1. Điều kiện tự nhiên và đất lâm nghiệp Văn Lãng

Văn Lãng nằm ở phía Bắc tỉnh Lạng Sơn, có địa hình đồi núi phức tạp, độ cao trung bình từ 200 đến 800 mét so với mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình năm đạt 1.400-1.600mm, nhiệt độ bình quân 22-23 độ C. Đất lâm nghiệp chủ yếu là đất feralit trên đá phiến sét và đá cát, tầng đất dày trung bình 50-80cm. Các điều kiện tự nhiên này phù hợp cho phát triển trồng rừng sản xuất với nhiều loại cây sinh trưởng tốt, đặc biệt là các loài cây gỗ lớn như Thông mã vĩ, Bạch đàn và Keo.

1.2. Thực trạng diện tích rừng trồng sản xuất tại địa phương

Diện tích rừng trồng sản xuất tại Văn Lãng phân bố rải rác ở các xã trên địa bàn huyện. Ba loại rừng trồng chính gồm Thông mã vĩ, Bạch đàn và Keo, trong đó mỗi loại chiếm tỷ lệ khác nhau tùy theo điều kiện lập địa và tập quán canh tác của từng vùng. Quá trình hình thành rừng sản xuất gắn liền với các chương trình trồng rừng của nhà nước và sự chủ động của hộ gia đình. Công tác quản lý rừng trồng được thực hiện theo quy định của pháp luật lâm nghiệp, với sự tham gia của Hạt Kiểm lâm huyện và UBND các xã trong việc hướng dẫn, giám sát kỹ thuật trồng và chăm sóc.

II. Phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình rừng trồng

Phân tích hiệu quả kinh tế là nội dung trọng tâm trong đánh giá mô hình trồng rừng sản xuất tại Văn Lãng. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 90 hộ gia đình trực tiếp trồng rừng, sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA kết hợp lập ô tiêu chuẩn điển hình trên diện tích 500m2 tại mỗi loại rừng. Kết quả cho thấy hiệu quả kinh tế giữa các loại rừng trồng có sự chênh lệch đáng kể. Rừng Thông mã vĩ cho giá trị kinh tế cao nhờ chất lượng gỗ tốt, thị trường tiêu thụ ổn định. Rừng Bạch đàn có ưu điểm chu kỳ thu hoạch ngắn, vốn đầu tư ban đầu thấp. Rừng Keo phát triển nhanh, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu địa phương. Tuy nhiên, chi phí đầu tư, thời gian hoàn vốn và lợi nhuận ròng trên mỗi hecta khác nhau rõ rệt. Việc so sánh hiệu quả kinh tế giữa các mô hình giúp người dân đưa ra quyết định đầu tư phù hợp với khả năng tài chính và mục tiêu sản xuất của từng hộ gia đình.

2.1. Hiệu quả kinh tế rừng Thông mã vĩ và Bạch đàn

Rừng Thông mã vĩ tại Văn Lãng cho trữ lượng đạt 80-120m3/ha sau chu kỳ trồng 15-20 năm. Giá trị kinh tế cao do gỗ Thông mã vĩ được thị trường ưa chuộng làm nguyên liệu xây dựng và chế biến. Chi phí đầu tư ban đầu khoảng 15-20 triệu đồng/ha. Rừng Bạch đàn có chu kỳ thu hoạch ngắn hơn, từ 7-10 năm, trữ lượng đạt 60-90m3/ha. Ưu điểm lớn nhất là vốn đầu tư thấp, khoảng 10-15 triệu đồng/ha, phù hợp với hộ có nguồn lực hạn chế. Tuy nhiên, giá trị đơn vị gỗ Bạch đàn thấp hơn Thông mã vĩ.

2.2. So sánh hiệu quả giữa các loại rừng trồng sản xuất

So sánh hiệu quả kinh tế cho thấy mỗi loại rừng trồng có ưu nhược điểm riêng. Rừng Keo phát triển nhanh, chu kỳ 5-7 năm, trữ lượng 50-80m3/ha, chi phí đầu tư thấp nhất. Rừng Thông mã vĩ có lợi nhuận ròng cao nhất trên đơn vị diện tích nhưng đòi hỏi thời gian chờ đợi dài. Rừng Bạch đàn nằm ở vị trí trung gian về hiệu quả. Lợi nhuận chiết khấu thuần (NPV) và tỷ suất lợi nhuận nội bộ (IRR) được tính toán để đánh giá toàn diện. Kết quả giúp xác định loại cây trồng tối ưu cho từng điều kiện lập địa và khả năng tài chính của hộ gia đình tại Văn Lãng.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp nâng cao hiệu quả

Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khoa học để đánh giá hiệu quả mô hình trồng rừng sản xuất. Phương pháp thu thập số liệu bao gồm phỏng vấn trực tiếp 90 hộ gia đình theo bộ câu hỏi định sẵn, lập 18 ô tiêu chuẩn cho mỗi loại rừng trồng với 3 ô tiêu chuẩn tại mỗi xã, diện tích 500m2 mỗi ô. Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo đạc chính xác bằng thước đo vanh và thước sào. Phương pháp chuyên gia được áp dụng để tham vấn ý kiến của cán bộ lâm nghiệp và người dân có kinh nghiệm. Để nâng cao hiệu quả trồng rừng sản xuất, nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp thiết thực. Các giải pháp tập trung vào cải thiện kỹ thuật trồng, chăm sóc, lựa chọn giống cây phù hợp và tối ưu hóa mật độ trồng. Bên cạnh đó, việc tận dụng chính sách hỗ trợ của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong giảm chi phí đầu tư và tăng lợi nhuận cho hộ trồng rừng.

3.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu nghiên cứu

Phương pháp PRA được sử dụng để thu thập thông tin từ cộng đồng, bao gồm phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm và quan sát trực tiếp. Các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời được lập trên diện tích 500m2 để đo đếm chỉ tiêu đường kính tại vị trí 1,3 mét và chiều cao vút ngọn của tất cả cây trong ô. Số liệu được xử lý theo phương pháp bình quân cộng để tính toán đường kính và chiều cao bình quân. Phương pháp chuyên gia giúp bổ sung kiến thức bản địa và kinh nghiệm thực tiễn từ người dân trong kinh doanh các loài cây rừng tại Văn Lãng.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng sản xuất

Giải pháp thứ nhất là cải thiện kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, bao gồm chọn giống cây có năng suất cao, áp dụng quy trình bón phân hợp lý và mật độ trồng tối ưu. Giải pháp thứ hai là tận dụng các chính sách hỗ trợ của nhà nước như Nghị định 75/2015/NĐ-CP về cơ chế bảo vệ phát triển rừng gắn với giảm nghèo, Quyết định 39/2007/QĐ-UBND về hỗ trợ lãi suất vốn vay trồng rừng. Giải pháp thứ ba là tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, từ khâu giống, trồng trọt đến tiêu thụ sản phẩm, giúp tăng thu nhập bền vững cho hộ trồng rừng tại Văn Lãng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại Văn Lãng

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình trồng rừng sản xuất tại Văn Lãng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Ba loại rừng trồng chính gồm Thông mã vĩ, Bạch đàn và Keo đều cho hiệu quả kinh tế khả quan, tuy nhiên mức độ hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào điều kiện lập địa, kỹ thuật canh tác và chính sách hỗ trợ. Rừng Thông mã vĩ có lợi nhuận cao nhất nhưng đòi hỏi thời gian đầu tư dài. Rừng Bạch đàn và Keo phù hợp với hộ cần thu nhập nhanh, vốn đầu tư thấp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc quy hoạch phát triển rừng sản xuất tại huyện Văn Lãng. Ứng dụng thực tiễn bao gồm hướng dẫn người dân lựa chọn loại cây phù hợp, tối ưu hóa mật độ trồng và áp dụng tiến bộ kỹ thuật. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước với Ban chỉ đạo phát triển rừng giúp triển khai hiệu quả các chương trình, dự án phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện.

4.1. Kết quả đạt được và hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện hiệu quả kinh tế, xã hội của ba mô hình trồng rừng sản xuất chủ yếu tại Văn Lãng. Các chỉ tiêu sinh trưởng, trữ lượng và hiệu quả đầu tư được lượng hóa cụ thể, tạo cơ sở so sánh giữa các loại rừng. Tuy nhiên, nghiên cứu còn một số hạn chế như phạm vi điều tra chưa bao quát hết các xã, chưa đánh giá đầy đủ hiệu quả môi trường. Số liệu thu thập trong thời gian ngắn, chưa phản ánh đầy đủ biến động dài hạn của thị trường lâm sản và tác động biến đổi khí hậu đến sinh trưởng cây rừng.

4.2. Ứng dụng và khuyến nghị cho phát triển rừng sản xuất

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Văn Lãng, giúp chính quyền địa phương và hộ gia đình đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Khuyến nghị người dân lựa chọn loại cây dựa trên điều kiện đất đai, khả năng tài chính và mục tiêu sản xuất. Đối với đất dốc, tầng đất mỏng nên trồng Keo hoặc Bạch đàn. Đất tốt, tầng đất dày ưu tiên Thông mã vĩ để đạt giá trị kinh tế cao. Cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, giống cây và vốn vay cho hộ trồng rừng để nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp bền vững tại Văn Lãng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả của một số mô hình trồng rừng sản xuất tại huyện văn lãng tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất 1. Hiệu quả Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con người hạn chế, người ta thường quan niệm hiệu quả chính là kết quả.

Sau ngày khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả như yêu cẩu của cồng việc mang lại hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra là kết quả mà con người chờ đợi, hướng tới, nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lương thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.

Hiệu quả kinh tế Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, hanau, Rusteruyer, Simmerman) “hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội” Hiệu quả kinh tế là phạm trì chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau. Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề: - Một là, mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”. 4 - Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết của hệ thống.

- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người. Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tương đối và tuyệt đối, cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế của trồng rừng là với một diện tích rừng trồng nhất định sản xuất ra một khối lượng lâm sản có giá trị nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao các sản phẩm lâm sản của xã hội”. Hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội của các hoạt động sản xuất kinh doanh là các lợi ích mà xã hội thu được từ rừng trồng. Hay nói cách khác là, hiệu quả xã hội thu được chính là sự đáp ứng của các hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội. Sự đáp ứng đó có thể được đánh giá về định tính như: sự đáp ứng những mục tiêu phát triển kinh tế, nhằm thực hiện các chính sách, chủ trương của Nhà nước… hoặc được đánh giá bởi các chỉ tiêu tính toán định lượng như: mức tăng thu nhập cho ngân sách, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân sống gần rừng… 1.

Khái niệm rừng: là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. 5 Khái niệm về rừng sản xuất: là được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. Khái niệm về phát triển rừng: là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng. Nghiên cứu trên Thế giới Trồng rừng là 1 môn khoa học quan trọng trong công tác xây dựng rừng, nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, có thể điểm qua 1 số công trình nghiên cứu điển hình sau đây.

Nghiên cứu chọn tạo giống trong rừng trồng sản xuất Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng, hiểu được vấn đề đó nên nhiều nước trên thế giới đã tập trung chú trọng về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tại Swaziland cũng đã chọn được giống Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm (Pandey, D. Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Eucallyptus grandis đạt từ 35 - 40 m3/ha/năm, giống E. urophylla đạt trung bình tới 55 m3/ha/năm, có nơi lên đến 70 m3/ha/năm (Campinhos và Ikenmori, 1988) [14].

Nghiên cứu về bón phân trong rừng trồng sản xuất Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở những nơi đất xấu. Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt đầu từ những năm 1950. Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan. Đến năm 1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (Dẫn theo Ngô Đình Quế và cs.

6 Qua những nghiên cứu ta thấy rõ rằng phân bón đã mang lại những hiệu quả rõ rệt như nâng cao tỷ lệ sống, nâng cao chất lượng, sản lượng, tăng khả năng chống chọi với điều kiện không thuận lợi của môi trường đẻ cây phát triển tốt hơn. Nghiên cứu về mật độ trong rừng trồng sản xuất Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau. Về vấn đề này đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1992) [17] khi nghiên cứu mật độ trồng rừng cho Bạch đàn E.

deglupta ở Papua New Guinea đã bố trí 4 công thức có mật độ trồng khác nhau (2.075 cây/ha; 750 cây/ha), số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, điều này có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao. Trong một nghiên cứu khác với thông P. caribeae ở Quensland - Australia, tác giả cũng đã thí nghiệm với 5 công thức mật độ khác nhau (2.075 cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng cũng thu được kết quả tương tự, nhưng ở các công thức trồng mật độ thấp (750 cây/ha - 1.075 cây/ha) có đường kính trung bình đạt từ 20,1 - 20,9cm, số cây đạt đường kính (D1.3) > 10cm chiếm từ 84% - 86%; Ở công thức mật độ cao đường kính chỉ đạt từ 16,6 - 17,8cm, số cây có đường kính (D1.3) > 10cm chỉ chiếm từ 71% - 76%. Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì vậy cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp.

Nghiên cứu về điều kiện lập địa trong trồng rừng sản xuất Kết quả nghiên cứu của tổ chức Nông - Lương Quốc tế (FAO, 1994) [15] ở các nước vùng nhiệt đới đã chỉ ra rằng: Khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng cây nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì. Nghiên cứu về chính sách và thị trường Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất trong đó hiệu quả về kinh tế là chủ yếu, sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài, đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân. Theo nghiên cứu của Goncalves et. (2004) [16], để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường.

Nhận biết được hai vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật. nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “Thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng, chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sẽ phải sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá. Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong (2004) [18] đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyết khích tư nhân phát triển trồng rừng như: - Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá.

- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước. - Giảm thuế đánh vào các lâm sản. - Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ