Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và các vấn đề liên quan đến đề tài 1. Khái niệm rừng ngập mặn và phân bố của rừng ngập mặn Rừng ngập mặn là quần xã được hợp thành từ thực vật ngập mặn ảnh hưởng bởi nước triều ven biển nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới. Rừng ngập mặn phân bố ở vùng triều giữa biển và đất liền ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới nằm trong khoảng 30° vi Bắc va 30° vĩ Nam (Giri va ctv, 2011).
Chúng phát triển trong môi trường khắc nghiệt như độ mặn cao, nhiệt độ cao, thủy triều cực đoan, trầm tích cao và đất yếm khí bùn. Ước tính hiện tại diện tích rừng ngập mặn trên thế giới chỉ bằng một nửa so với trước đây (Spalding và ctv, 1997; Spiers, 1999) và phần lớn diện tích còn lại đang trong tình trạng suy thoái (UNEP, 2004; MAP, 2005). Các môi trường sông ven biên trên khắp thế giới đang chịu áp lực lớn về dan số và phát triển, đồng thời thường xuyên phải hứng chịu các cơn bão. Theo Ngô Đình Qué va ctv (2003), rừng ngập mặn là hệ sinh thái sinh trưởng và phát triển trên các dang lập địa ngập triều vùng cửa sông, ven bién của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Đây được xem là một hệ sinh thái có năng suất sinh học cao và có vai trò quan trọng về kinh tế xã hội và bảo vệ môi trương. Theo Đỗ Đình Sâm (2005), rừng ngập mặn không những cung cấp các lâm sản như gỗ củi, tanin, thức ăn cho gia súc mà còn là nơi trú ngụ và sinh sản của nhiều loài thủy hải sản, đồng thời giữ vai trò tích cực trong trong việc phòng hộ ven biển, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, bảo vệ đê biển. Vi vậy, mặc du diện tích rừng phòng hộ ven biên bao gồm ca rừng ngập mặn va rừng phòng hộ ven biển chỉ chiếm 5,5% trong tông số 6 triệu ha rừng phòng hộ của cả nước, nhưng chúng có vai trò hêt sức quan trọng về kinh tê, xã hội và môi trường. Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận xích đạo nên đối với môi trường không khí nhiệt độ là yếu tố đặc trưng, ở những nơi có biên độ thích hợp và ít dao động, cây ngập mặn có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt, cho nên hạt giống khi phát tán có điều kiện nảy mầm ở mức tối ưu nhất; ngược lại ở những nơi có biên độ dao động nhiệt lớn thì quá trình sinh trưởng, phát triển sẽ diễn ra chậm cho nên cũng ảnh hưởng tới sự phân bố rừng ngập mặn.
Loài cây ngập mặn có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt trong môi trường nước dé cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết, có vai trò cân bằng và duy trì độ mặn dé hạt giống các loài cây ngập mặn ở những khu vực khác có điều kiện nảy mầm. Với môi trường đất trong một quần xã rừng ngập mặn phụ thuộc vào nhiều yếu tố địa hình. Sự thay đôi mực nước biên hoặc quá trình xói mòn, sạt lở có thé tác động trực tiếp đến sự phân bố của rừng ngập mặn. Các quần xã rừng ngập mặn phát triển tốt nhất đối với những bãi bồi có đảo che chắn sẽ tạo điều kiện cho cây ngập mặn phát triển tốt.
Khái niệm liên quan đến cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình cạnh tranh giữa thực vật với cơ chế tác động lẫn nhau giữa chúng trong hệ sinh thái rừng. Dé tồn tại, mỗi loài cây không chỉ yêu cầu một điện tích dinh dưỡng (không gian sinh trưởng) nhất định mà còn có sự biến động theo tuổi của cây, điều kiện khí hậu và dat đai thé nhưỡng. Số lượng cây quá nhiều sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa thực vật và phương tiện sống làm cho cây bị chèn ép mạnh, khả năng bị chết cao, làm suy yếu và đôi khi mat khả năng tái sinh hạt và năng lực sinh sản bang chỗi (Xukasov, 1953 và Knapp, 1954; dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002). Việc nghiên cứu quy luật cấu trúc rừng trồng là để tìm ra các dạng cấu trúc phô biến nhất và các dang tối ưu theo quan điểm kinh tế, nghĩa là kiêu cau trúc cho năng suất gỗ cao nhất, chất lượng gỗ phù hợp với nhu cầu sử dụng gỗ và bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở các quy luật cấu trúc, các nhà lâm học có thể xây dựng các phương thức khai thác, tỉa thưa hợp lý cho rừng trồng thuần loại, đều tuổi hay nhiều thế hệ tuổi (Nguyễn Ngọc Lung và ctv, 1999). Theo Wenk (1995) nghiên cứu xác định cấu trúc của một loại hình rừng nhằm mục đích không những đánh giá hiện trạng rừng và động thái sinh trưởng của rừng qua các quy luật phân bố số cây theo chiều cao Hy, (cấu trúc đứng), theo đường kính D;; và tổng tiết diện ngang G (cau trúc ngang), mà còn có thé xác định chính xác kích thước bình quân lâm phần phục vụ cho công tác điều tra quy hoạch rừng. Trong nghiên cứu cau trúc của rừng trồng thuần loại, đều tuổi thì hai nhóm số liệu được các tác giả quan tâm nghiên cứu đó là đường kính thân cây tại vi trí 1,3 m (D¡3) và chiều cao vit ngọn (H„,) của các cá thé cây rừng. Số liệu về đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m dùng để đánh giá kích thước của cây và biểu thị tuổi của rừng.
Số liệu về chiều cao vút ngọn dùng đề đánh giá kích thước của cây và biểu thị sự phân tầng rừng. Cấu trúc rừng phản ánh điều kiện sinh thái. Cụ thể, những nơi có điều kiện môi trường khắc nghiệt, cấu trúc rừng đơn giản chỉ gồm những loài cây chống chịu được môi trường đó. Nơi có môi trường thuận lợi, cấu trúc rừng phức tạp và gồm nhiều loài cạnh tranh, có phần cộng sinh và các loài ký sinh (các loại rêu, địa y.
Vùng ôn đới, cau trúc rừng thường là thuần loài, đều tuổi, một tầng, rụng lá (trích dẫn bởi Nguyễn Minh Cảnh, 2021). Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D,3) là một trong những quy luật quan trọng trong kết câu lâm phan, vì nó thể hiện quy luật sắp xếp các thành phan cau tạo nên quan thé trong không gian theo thời gian. Từ quy luật này, có thể đánh giá được kết cấu của rừng, đề xuất các biện pháp lâm sinh thích hợp dé xây dựng quan thé có năng suất và tính ổn định cao. Thông qua mật độ ở từng cấp kính, có thê biết rừng đang ở trạng thái nào, xu hướng phát triển của rừng ở tương lai.
Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H„,) phan ánh sự phân bố, sắp xếp trong không gian giữa các cây với nhau. Về phương diện sinh thái học, nó thể hiện cho sự hướng sáng, cạnh tranh để dành không gian sống của các cây với nhau. Điều này dẫn đến những cây có sức sống tốt sẽ vươn lên tầng trên, những cây có sức sống kém hon sẽ ở tang dưới hoặc bị dao thải. Những thông tin về cấu trúc rừng là căn cứ khoa học để phân tích các đặc tính sinh thái của rừng, tiến tới việc xây dựng các phương thức lâm sinh hiệu quả.
Các nhà điều tra rừng thường sử dụng các mô hình phân bố N/D,3, phân bố N/Hy,, phân bố số N/G và phân bố N/V dé thông kê nhanh mật độ quần thụ, tiết diện ngang và trữ lượng gỗ của rừng theo từng cấp D¡; hoặc cấp Hy, (Nguyễn Văn Thêm, 2002). Khái niệm liên quan đến sinh trưởng, tăng trưởng và biểu quá trình sinh trưởng 1. Sinh trưởng và tăng trưởng của cây rừng (cây cá thể) Sinh trưởng và tăng trưởng cây rừng là hai khái niệm quan trọng trong lĩnh vực khoa học rừng và quản lý rừng. Chúng thường được sử dụng để mô tả sự phát triển của cây rừng và có vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng và hiệu quả của các chương trình quản lý rừng.
Sinh trưởng cây rừng là quá trình phát triển của cây từ khi nó còn nhỏ cho đến khi trở thành cây trưởng thành. Trong quá trình sinh trưởng, cây sẽ phát triển các cơ quan sinh sản và phát triển thân cây để tạo ra thân cây to lớn hơn. Sinh trưởng cây rừng bao gồm các quá trình như: hấp thụ nước và chất dinh dưỡng từ đất, quang hợp dé sản xuất năng lượng, sinh sản dé tạo ra hoa và quả, và phát triển thân cây để tăng kích thước và độ cao của cây. Nghiên cứu sinh trưởng của cây và rừng là tìm hiéu và xác định quy luật phát triển của chúng thông qua một số chỉ tiêu sinh trưởng như: D¡¿, Hy, V.
Những quy luật này được mô tả và trình bày bằng những phương trình toán học cụ thé và được gọi là các hàm sinh trưởng hay các mô hình sinh trưởng. Sinh trưởng của cây được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn hình thành, phát triển; Giai đoạn sinh trưởng mạnh; Giai đoạn thành thục và già cỗi. Các giai đoạn này mang tính đặc trưng riêng và tùy theo đặc tính sinh học của loài cây (mọc nhanh hay chậm), điều kiện lập địa, biện pháp tác động. mà nhịp điệu biến đổi về sinh trưởng sẽ khác nhau dẫn tới thời điểm chuyên đổi của các giai đoạn sẽ khác nhau.
Điều này được thể hiện rất rõ giữa các loài cây mọc nhanh, mọc chậm. Từ đây vấn đề đặt ra cho nghiên cứu sinh trưởng, tăng trưởng và sản lượng rừng trồng là phải thé hiện sinh trưởng một cách liên tục (Nguyễn Minh Cảnh và Giang Văn Thắng, 2018). Tăng trưởng cây rừng là khái niệm liên quan đến tốc độ phát triển của cây rừng trong một khoảng thời gian nhất định. Tốc độ sinh trưởng và tăng trưởng của cây rừng có tác động trực tiếp đến sản lượng rừng, một yếu tô quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.
Sinh trưởng là quá trình tăng trưởng kích thước và khối lượng của cây trong một khoảng thời gian nhất định, trong khi tăng trưởng là sự gia tăng về kích thước và khối lượng của cây trong thời gian đài hơn. Tăng trưởng cây rừng có thể được đo bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm đo đường kính cây, đo độ cao cây, hoặc đo thể tích cây. Tăng trưởng là sự tăng lên về kích thước của một hoặc nhiều cá thé trong lâm phần với khoảng thời gian cho tr- ước (Vanclay, J. Thông thường chỉ tiêu này được xác định theo đơn vi thời gian là năm (Id¡s: cm/nam; ih: m/năm; iM: m`/ha/năm) (Vũ Tiến Hinh va ctv, 2012).