CHƯƠNG 1: TONG QUAN CÁC VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIEU KHU VỰC NGHIÊN CUU 1. - Mật số khái niệm chính về vấn đề nghiên cứu 1. Biển đỗi khí hậu và mức độ dé bị tốn thương. “Theo Điều 1, điểm 2 của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (UNFCCC) năm 1992, BDKHI là sự biển đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc giản tiép làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn và do sự biển động tự nhiên của khí hậu quan sắt được trong những thời ky có th so sinh được (61.
Các biểu hiện của BDKH bao gdm = Nhiệt độ trun; bình toản cầu tăng lên, - Sự đâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt vả băng tan, + Sự hay đội thành phn và chất lượng khí quyền, = Sqrthayđội cường độhoạt động của quần ih hoàn lưu khí quyền, chu trình tuẫn hoàn và các chu trình sinh địa hoá khác g suit sinh học của các HST, chất lượng và thành phần của thuỷ “quyển, sinh quyển, và địa quyền, Báo cáo kịch bản mới nhất về BDKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016 thì BDKH được định nghĩa: Là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. BĐKH hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển ding và gia ting các hiện tượng khí tượng, thủy văn cực đoan [7] “Chương trình phát riển Liên Hợp Quốc đã tôm tắt ba hướng định nghĩa MĐDBTT do (i) thám họa thiên nhiên và dịch bệnh, (ii) do đói nghèo và (iii) do BĐKH [8]. chit phúc tạp và ảnh hưởng mạnh mẽ của BĐKH đối với môi trường. sinh thi, xã hội.
đđã có nhiều nghiên cứu lượng hóa những ảnh hưởng của BĐKH - làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm giảm thigu rủ ro ổn thất do BĐKH, lộc đánh giá MĐDBTT. cũng vì thế mà phải đựa trên nhiều yêu tổ tác động từ bên ngoài và nhiều yêu tổ bên trong nội him của nó từ đó phân tích những rủi ro ma các yếu tổ đồ gay ra. Trong các "báo cáo của IPCC, khái niệm này được sử dụng khác nhau qua các thời kỳ (Bảng 1. Khái niệm MDDBTT do BDKH của IPCC Khái niệm MDDBTT do BDKH Bio cáo.
IPCC Năm 1993, Me độ mà một hệ hông không có khả năng đối phó với những hậu quà của BDKH va nước biển dâng. Mức độ mà BDKH có thể gây tổn hại bay bắt lợi cho hệ hông; không chỉ Năm 1996 | phụ thuộc vào mite độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào năng Báo cáo | lực thích ứng (AC) của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. in thứ 2, Định nghĩa này bao gồm sự phơi bày (E), mức độ nhạy cảm (S), khả năng, (SAR) | phục hoi của hệ thống để chống lại các mỗi nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH. "Mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảm với các thiệt hai do BDKH gây rà MDDBTT là một hầm của S rong một hệ thống đổi với những thay đổi Năm 2001 | của khí hậu (mức độ mà một hệ thống chịu tác động có lợi cũng như bị áo cáo _ lợi bởi các yêu tổ liên quan đến khí hậu), AC (khả năng mà một hệ thông lồn thứ 3 điều chính sự BDKH — bao gồm cúc thay đôi khí hậu và các hiện tượng (TAR) _ cực đoan - dé hạn chế các thiệt hại tiềm ẩn, tận dụng các cơ hội hoặc để.
đối phó với các hậu quả). và E của hệ thẳng với các nguy cơ khí hậu (các đặc tính, cường độ và mức độ, phạm vi của các biến đổi và dao dộng khí hậu). Là mức độ một hệ thống (sinh thái, kinh tế-xã hội, sản xuất.) dé bị ảnh. Năm 2007 hướng và khôn thể chồng chịu tước cdc te động tu cục của BBKH, bu bao gồm dao động tậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan.
inhi 4 MĐDBTT là một hầm củ E,$ xà AC của hệ thing đó, Theo định nghĩa này, khi các biện pháp thích ứng được tăng cường, MĐDBTT sẽ giảm đi Nguồn: [9] "Ngoài ra, có một số định nghĩa về MĐDBTT do BĐKH được các tác giả đưa ra như là mức độ do nang lực của một người hoặc một nh6m người có thé đối phó, chống chịu và phục hii trước những tác động nguy co từ tự nhiên, vg đánh giá MDDBTT được đánh giá thông qua S và AC [10]; Là mức độ bị thiệt hại của một hệ théng trước tác động của BDKI gây ra, MĐDBTT phụ thuộc vào hai yếu tổ là S và AC trước những cực trị khí hậu gây ra [L1]; hay là mức độ bị ảnh hưởng của một cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng liên quan đến các loại hình thiên tai, MDDBTT được đánh giá thông qua 05 thành phần: hạnh phúc, tự bảo vệ, sự bảo trợ xã hội, sinh kế và vốn xã hội [12] 6 nghị tự sự đưa ra chỉ số (LVI) vớ cách tiếp cận dựa rên đánh giá tổng hợp 07 yếu tổ chính và 3 tác nhân theo IPCC gồm: E với thiên tai và BĐKH: Mang lưới xã hd sinh kế và nhân khẩu gia định ảnh hưởng đến AC của họ con hiện trang sức khỏe, thực phẩm và ải nguyên nước quyết định S của chúng đổi với các tác động của BĐKH [13] Chi số LVI được thiết để cung cắp cho các tổ chức, các nhà hoạch định chính sách có thể điều chỉnh cơ chế phủ hợp vị nhủ cầu của từng khu vục dia lý, Đánh giá tn thương do BĐKH là đá nh giả mức độ dễ bị ảnh hưởng cia một hoc các đổi tượng dưới túc động của BĐKH. MĐDBTT của một đổi tượng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của BDKH mà còn phụ thuộc vào AC của đối tượng đó. Kết quả đánh giá tổn thương có thé được thể hiện trên ma trận hoặc các bản đồ tổn thương chỉ ra các vàng khu vực và nhôm dan cư có khả năng DBT cao do BDKH [14] Như vị „ đã cổ nhiều định nghĩa về MĐDBTT do BĐKH. Các định nghĩa hiu hết đều chỉ ra có sự liên quan chặt chế giữa MĐDBTT đến AC, trong đó có nội dung về sinh ké.
Sinh kế và sinh kế bền vững trước tác động của BOKH Định nghĩa "sinh kế bao gém khả năng, nguồn lự và các hoại động en thiết làm phương tiện sống của con người”. Một sinh ké là bằn vững "khi có thé giải quyết được hoặc có khả năng phục hai từ những căng thẳng và đột biển, duy trì hoặc tăng cường khả năng, và nguồn lực, tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thé hệ tương lai và mang lạ lợi ích rong cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cắp toàn cầu, trong ngắn hạn và dai hạn” [15]. Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm tương tự về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trg của mình [I6]. Sau này, nhiều tác giá đã phát triển tinh bền vững của sinh kế trên cả phương điện kinht thể chế và di đến thống nhất din giá tỉnh bên vũng của sinh kể trên 4 phương điện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế [17}-[18} Khi xem xết các tác động của BĐKH, có thể nhận thấy, BĐKH là mộty su tố chủ chốt liên quan đến MĐDBTT của sinh kế.
Trước hết, BDKH gây ảnh hưởng đến các nguồn. le sinh kể, đặc iệtlà các nguồn lực tự nhiên và vật chất nhạy cảm với sự BĐKH. Khi các nguồn lực sinh ké bị tôn thương trước tác động của BĐKH thi các hoạt động và kết aqua sinh dat được sẽbị ảnh hưởng. Do đó, vé cơ bản các khung sinh kể bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế, cụ thé là: sắc hộ gia dinh, dựa vào các nguồn lực sinh kế hiện cô (gŠm: nguồn lực con người, tự nhiên, tải chính, vt chất, xã hội trong bối cảnh thể chế và chính sich nhất định ở dia phương, sẽ thực hiện các hoạt động sinh kế (như: sản xuất nông nghiệp, đánh bit, nuôi trồng, dt lịch, đa dạng héa các loại hình sinh kể.
nhằm đạt được các kết quả sinh kế bền vững (như: tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, giảm rủi ro và khả năng bị tổn thương, củi thiện an ninh lương thực, sử dụng bén vững hơn các nguễn ải nguyên.) dui sự tác động của bối cảnh bên ngoài [3] Chính vi vậy, gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tổ BDKH sẽ giúp xây dựng các sinh kế bền vững và thích ứng với BĐKH, Đây là một nhu cấp cắp bách hiện nay trong bối cảnh khí hậu ngày căng biển đổi bắt thường và gây anh hưởng nghiêm trọng lê sinh kế của người din, đặc biệtlà công đồng ven biển 1.13, RNM và vai tro của RNM với sinh ké trong diễu kiện BDKH Thuật ngữ cây ngập man được dùng để chi một tap hợp cây nhiệt đới và cây bụi mọc ở vũng bãi triều. Rừng ngập mặn (RNM) có khoảng 16 họ, 40.50 loài thục vật khác nhau căng sinh sống, ác i chỉ cho loài thự vật thuộc RNM, gồm hình thai và đặc điểm sinh thải thích ứng với môi trường nước mặn hay ngập mặn. = Đồng vai trd quan trọng trong cấu trúc quan xã cây ngập mặn và có khả năng ạo rừng; ~ Có đặc điểm sinh thái học phân loại khác biệt với các loài trên mặt đắt [19] NM là hệ sinh thai (HST) có tinh da dang sinh học và năng suất cao ở vùng nhiệt đới. RNM không những cung cắp cho nhân dân trong vùng các loi lâm sản như sổ, cùi, tanin hay là thức ăn, thuốc chữa bệnh, ngu giống cho nghé nuôi tring thủy sản.mà côn là nơi cự trú, sinh sản và sm ăn của nhiều loài thủy sản có giá tị, các loài chim nước, chim di cư, một số động vật sống trên cạn.
RNM còn có những chức năng to lớn trong việc bảo vệ đường bờ của sông, biển khỏi xó lở, bảo vệ dé điều, ruộng vườn, nhà cửa, làng mạc, đồng thời điều hòa khí hậu cho khu vực. Vì vậy, RNM đang thực hiện. những chức năng và vai trỏ sinh thái to lớn đối với tải nguyên, mỗi trường và sự phát triển kinh t xã hội, đặc biệt là chúng đem li sinh kể, nguồn thức ăn và những lợi ích 8 lâu đã khác cho đời sng của hàng ngân người dân sông trong khu vực [2 RNM là một trong các HST ven biển điễn hình ở vùng biển nhiệt đới và á nhiệt đới; là "ôi trường sống.