MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lượng mưa là hiện tượng ngẫu nhiên trong tự nhiên do hoàn lưu khí quyển và đại đương gây ra. Dự báo lượng mưa là cực kỳ quan trong trong lĩnh vực Kỳ thuật Tài nguyên nước như quản lý lũ lụt, hạn hán, dòng chảy môi trường, nhu cầu nước của các ảnh khác nhau, duy trì mực nước hồ chứa và thiên tai. Lượng mưa là nguồn cung cấp nước chính, đó là yêu cầu cơ bản trong việc sản xuất nông nghiệp, do đó dự báo mưa rit hữu ích cho việc lên kế hoạch trồng trot phù hợp.
Lượng mưa là một quá trình ngẫu nhiên, lượng mưa phụ thuộc vào các thông số thời tiết như nhiệt độ trung bình, áp suất khí quyển bé mặt, độ ẩm tương đối và tốc độ gió. "Để dự báo mưa han mùa, hiện nay trên Thể giới cũng như Việt Nam thường có hai cách tiếp cận là sử dụng phương pháp thống kê (thống kê truyền thống và downscaling thống kê) và phương pháp mô hình động lực. Nhin chung, phương pháp thống kê truyền thống đã đạt được những kết quả nhất định, nhiều mô hình thống kê có đóng góp chính trong việc đưa ra bản tin dự báo tổng lượng mưa mùa. Phương pháp downscaling thống kê phụ thuộc nhiều vào độ chính xác của.
sản phẩm dự báo từ các Mô hình khí hậu toàn cầu (Global Climate Model GCM), tuy nhiên sai số của các GCM hiện nay vẫn còn khá lớn nên kết qui nhận được theo hướng này cũng còn nhiễu hạn chế. Phương pháp mô hình động lực là hướng nghiên cứu dang rất được quan tâm, nó có những ưu điểm vượt trội về khả năng cung cấp sản phẩm dự báo nhưng độ chính xác cũng chưa đạt được như mong muốn. Dự báo mưa hạn mùa ở Việt Nam hiện mới dừng lại rong phạm vi các mô hình thống kê, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu ứng dụng các mô hình số nhưng chưa có điều kiện đưa vào nghiệp vụ, có thể do một số nguyên nhân như: khả năng tính toán của máy tính, chưa có điều kiện biên ổn định (chưa chủ động được sản phẩm của mô hình toàn cầu). hạn chế về độ chính xác của sản phẩm dự.
Các thông tin dự báo hạn mùa, trong đó có dự báo mưa đã đáp ứng phần nào nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế xã hội và đời sống. Tuy nhiên, để ứng dung có hiệu quả thì bản tin dự báo mùa còn có những hạn chế như: (1) Đối tượng dự báo mới giới hạn ở hai yếu tổ là nhiệt độ trung bình và tổng lượng mưa, thiểu thông fin dự báo về các yêu tổ khí hậu quan trọng khác như: nhiệt độ cực trị, lượng mưa lớn nhất, bốc hơi, độ am, số giờ nắng, gi 6, khả năng khô hạn; (2) thông tin dự báo về 3 tháng kề nhau nhiều khi không phù hợp với yêu cầu sản xuất nông nghiệp trong những thời kỳ sinh trưởng quan trọng của cây trồng, nhất là các thông tin dự báo theo từng tháng và dự báo đầu vụ cùng với dự báo 3 tháng để có kế hoạch điều tiết nước và bố trí cơ cấu cây trằng hợp lý ngay từ đầu vụ. Tir những phân tích ở trên cho thấy việc nghiền cứu, ứng dụng những phương pháp dự báo mới để dự báo mưa hạn mùa (tháng, 3 tháng, 6 tháng) với kết quả dự báo đủ tin cậy mang một ý nghĩa lớn trong lĩnh vực Kỹ thuật Tài nguyên nước. Vì thé, trong nghiên cứu này tác giả ứng dụng phương pháp mới trong Tĩnh vực dự báo để nghiên cứu và đề xuất mô hình dự báo mưa hạn mùa phủ hợp, và có độ tin cậy cao cho lưu vực sông Cả.
Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu ứng dung Mạng noron thích nghỉ mở (Adaptive neuro-fuzzy inference system, ANFIS) dé thiết lập các mô hình dự báo lượng mura vụ với các biến đầu vào là lượng mưa vụ trong quá khứ. ~ Nghiên cứu và đề xuất mô hình dự báo lượng mưa vụ (1 tháng, 3 tháng và 6 tháng) phủ hợp cho lưu vực sông Cả. Đối trợng và phạm vi nghiên cứu Đắi tượng nghiên cứu: Tông lượng mưa vụ (vụ Itháng, 3 thang va 6 tháng). "Phạm vi nghiên cứu: Lượng mưa, đặc điểm và xu thé biển đỗi của lượng mưa ở một số vị trí trên lưu vực sông Cả 4, Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu.
> Cáchtiếp ~ Tiếp cận thực tiễn (Khảo sát thực tế, thu thập số liệu tại vùng nghiên cứu); - Tiếp cận kế thừa có chọn lọc và bổ sung; ~ Tiếp cận các mô hình dự báo tiên tiền dang sử dụng hiện nay trên thé giới. > Phuong pháp nghiên cứu: ~ Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu thực tế, tài liệu tham khảo; ~ Phương pháp thống kê, xác suất: Tổng hop, xử lý và phân tích số liệu để đánh giá dién biến lượng mưa của khu vực; - Phương pháp phân tích kế thừa có chọn lọc các mô hình dự báo đã có trên thế giới: ~ Phương pháp mô hình toán, lập trình trên máy tính CHUONG 1: TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU DỰ BAO LƯỢNG MƯA. VU VA VUNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu về dự báo lượng mưa vụ 1.
Tong quan về tình hình nghiên cứu trên thé giớ. Vige dự báo được mức độ biến động của các yếu tố khí hậu, đặc bi là yếu tổ lượng mưa trong từng mùa, vụ sẽ cho phép thực hiện công tác chỉ đạo sản xt hop lý, ti kiệm được nguồn nước, giảm chỉ phí trong sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng. Đó chính là một trong những yêu cầu đối với các nhà nghiên cứu dự báo khí hậu. Trong khí tượng, công tác dự báo nghiệp vụ thường được chia thành 2 loại: dự báo thời tiết và dự báo khí hậu.
Dự báo thời tiết là dự báo trước trang thái của khí quyén tại một địa điểm và thời điểm cụ thé (thời điểm có thể là từng giờ, từng ngày). Dự báo khí hậu là dự báo các đặc trưng về điều kiện khí quyén trong từng khoảng thời gian dai như: tháng, mùa, vụ, năm, thập kỷ, thể kỷ, trong đó, được quan tâm nhiều nhất là dự báo hạn mủa (tháng, mùa, vụ). Dự báo khí hậu hạn mùa khác với dự báo thời tiết không chỉ ở phạm vi thời gian, mục đích mà còn khác cả sản phẩm, cách tiếp cận và phương pháp. thông tin mà nghiên cứu dự báo thời tiết có thể bỏ qua, nhưng nghiên cứu dự báo mùa lại cần phải tính toán rất thận trọng [1].
Do tính tương tác không tuyến tính của các hình thể thời tiết ở quy mô synop nên dự báo thời tiết chỉ có thể dự báo trước được một số ngảy. Theo WMO quy định các dự báo khí tượng có hạn. dự báo nhỏ hơn hoặc bằng 10 ngày được xem là dự báo thời tiết (thời đoạn 10 ngây là cận trên của chu kỳ Synop) và hạn dự báo trong khoảng tháng, mùa, vụ được xem là dự báo mùa [2]. Cho đến nay, có hai cách tiếp cận để dự báo khí hậu mùa là dự báo bằng phương pháp thống kê thực nghiệm và phương pháp động lực.
Mỗi phương pháp đều tên tại những điểm mạnh yếu và có xu hướng bổ sung cho nhau, do vậy các hoạt động dự báo mùa ở nhiều trung tâm thông thường phụ thuộc vào sự tng hợp các thông tin được cung cấp bởi các công cụ dự báo thống kê và mô hình động lực[1]. Phương pháp thống kê thực nghiệm. phụ thuộc vào mối quan hệ giữa yếu tố dự báo với các nhân tố dự báo. Nhân tố 4 dự báo có thể là các quan trắc hiện tại và quá khứ hoặc các trường tái phân tích khí quyển, đại đương (SST, SOI, MET.) hoặc cũng có thể là các trường dự báo của các mô hình khí hậu toàn cầu (hạ thắp qui mô thống kế - Statistical Downscaling).
Mỗi quan hệ giữa yếu tổ dự báo với các nhân tổ dự báo được xây, dựng dựa trên các tập số liệu lich sử va gia thiết rằng mỗi quan hệ đó vẫn duy trì trong tương lai. Các công cụ phân tích thống kê khác nhau như: phân tích tương quan, hồi quy, xác suất có điều kiện, hàm phân biệt, phân tích chuỗi thời gian .được sử dụng nhằm nắm bắt được tính chat vật lý va các quá trình động lực trong hệ thống khí hậu. Ưu điểm của cách tiếp cận này đó là quá trình tính toán trong các mô hình không cin công hiệu máy tính lớn, đơn giản, dễ áp dụng trong thực tiễn, kết quả dự báo mang tính khách quan, tuân theo một quy tắc nhất định. Ban đầu, hướng tiếp cận này không thực sự thành công, nhưng với sự gia tăng hiểu biết về hiện tượng ENSO vàcác hình thé thời tiết khác đã giúp.
cho phương pháp này đáng tin cây hon [I]. Tuy nhiên, cách cận này tổ tại một số điểm như: chỉ đơn thuần dựa vào mối quan hệ tuyết tính, không biểu diễn trực tiếp quan hệ vật lý giữa nhân tố dự báo và yếu tố dự báo, các điều kiện khí hậu chưa từng xảy ra không được xét đến trong quá trình dự báo, và kết quả dự báo phụ thuộc nhiều vào độ dài chuỗi số liệu. Phương pháp động lực là hướng nghiên cứu mô phỏng khí hậu bằng mô hình. Đổ biểu các quan hệ vật lý giữa các yếu tố, người ta xây dựng các mô hình số dựa trên mối tương tác vật lý của sự chuyển động.
Phát triển sớm nhất của loại mô hình nảy là mô hình hoàn lưu chung khí quyển (AGCM), sau đó, do sự ảnh hưởng quan trong củ: dương đối với hệ thống khí hậu nên đã lồng ghép mô hình hoàn lưu chung đại đương (OGCM) với mô hình hoàn lưu chung khi quyển dé tạo thành hệ thống mô hình kết hợp (couple) đại dương khí quyền (AOGCM). Mặt khác, do nhu cầu sử dụng thông tin dự báo với độ phân giải không gian cao, các nhà khoa học đã đưa ra các mô hình khí hậu khu vực (RCM), mô hình RCM được xây dựng theo nguyên tắc RCM được lồng vào một GCM nào đó. Phương pháp lồng ghép RCM vào AOGCM thường được gọi là hạ thấp qui mô động lực 5 (Dynamical Downscaling). Hiện nay, các mô hình hoàn lưu chung khí quyển đại đương và các mô hình khí hậu khu vực là công cụ chủ yêu được sử dụng để xác định sự biến động khí hậu trong quá khứ và dự báo khí hậu cho tương lai Nếu kết quả đầu ra của mô hình có sai số hệ thống, nó sẽ thực hiện thêm quá trình thống kê sản phẩm mô hình (MOS) dé đạt được kết quả đầu ra tốt hơn.
Ngoài ra, một số các trung tâm lớn như Trung tâm dự báo thời tiết hạn vừa châu.