Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Nhân học của tác giả Nguyễn Thị Hương, với đề tài "Sinh kế của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng: Truyền thống và biến đổi", được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2022) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Huỳnh Ngọc Thu.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Người Chil là một trong sáu nhóm địa phương của dân tộc Cơ Ho (theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam năm 2009). Địa bàn cư trú truyền thống của người Chil gắn liền với các vùng đồi núi dốc trên cao nguyên Lang Biang thuộc Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng. Đây là cộng đồng cư dân bản địa đã định cư lâu đời, thích nghi với điều kiện sinh thái vùng núi cao và tạo lập nên hệ thống tri thức dân gian, văn hóa tộc người đặc thù.

Sau khi cao nguyên Lang Biang được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới và dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, định canh định cư, di dân kinh tế mới, cơ chế thị trường và quản lý rừng đặc dụng, sinh kế của người Chil đã có những biến đổi sâu sắc. Thực tế nảy sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu mở rộng tư liệu sản xuất nông nghiệp của cư dân bản địa với yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên rừng và đa dạng sinh học. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu chung về các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên và tỉnh Lâm Đồng, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về hoạt động sinh kế của người Chil từ truyền thống đến hiện đại trong không gian phân vùng của một Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án bao gồm 5 nội dung chính:

  1. Nhận diện sinh kế truyền thống và làm rõ sự biến đổi trong sinh kế hiện nay của người Chil tại địa bàn nghiên cứu so với truyền thống.
  2. Phân tích các yếu tố tác động đến sự biến đổi sinh kế của người Chil.
  3. Phân tích khả năng thích ứng của người Chil trong điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường mới.
  4. Xác định những vấn đề đặt ra trong hoạt động sinh kế hiện nay trong mối quan hệ với phát triển bền vững, quản lý và bảo tồn cảnh quan, đa dạng sinh học tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang.
  5. Đề xuất các kiến nghị và giải pháp làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển sinh kế bền vững song hành với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 3 nhiệm vụ:

  1. Thu thập thông tin có hệ thống nhằm nhận diện sinh kế truyền thống và chỉ rõ các biến đổi trong sinh kế của người Chil hiện nay.
  2. Chỉ ra các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự biến đổi sinh kế tộc người.
  3. Đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm bảo đảm sinh kế bền vững cho người Chil trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Sinh kế hiện nay của người Chil biến đổi như thế nào so với truyền thống?
  2. Những yếu tố nào tác động đến sự biến đổi sinh kế của người Chil?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động sinh kế của người Chil trong truyền thống và hiện nay tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng.
  • Phạm vi không gian: Huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Luận án khảo sát cụ thể tại 3 địa bàn đại diện cho 3 phân vùng chức năng của Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang:
    • Vùng lõi: Xã Đưng K’nớ.
    • Vùng đệm: Xã Đạ Sar.
    • Vùng chuyển tiếp: Thị trấn Lạc Dương.
  • Phạm vi thời gian: Phân chia thành hai giai đoạn nghiên cứu:
    • Giai đoạn 1 (1975–1986): Giai đoạn sinh kế truyền thống, hoạt động kinh tế chủ đạo là canh tác nương rẫy luân canh và khai thác tự nhiên, ít chịu tác động từ các yếu tố bên ngoài.
    • Giai đoạn 2 (1986–2015): Giai đoạn đổi mới, kinh tế - xã hội của người Chil có sự biến đổi mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách nhà nước và quá trình hội nhập đến khi thành lập Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang (2015).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu của học giả quốc tế và trong nước

Luận án đã tổng quan các nhóm tài liệu học thuật theo các trục nội dung:

  1. Các nghiên cứu quốc tế về sinh kế và sinh thái nhân học:

    • Julian Haynes Steward (1902–1972) với Lý thuyết sinh thái văn hóa, đặt nền tảng cho việc phân tích mối tương tác qua lại giữa môi trường tự nhiên, công nghệ, tổ chức lao động và cấu trúc văn hóa xã hội.
    • Các công trình mô tả nông nghiệp và mưu sinh truyền thống vùng Đông Dương và Tây Nguyên thời kỳ đầu như: Georges Condominas (1957) với "Chúng tôi ăn rừng"; Jean Boulbet (1975) với "Trồng trọt của những người tiền Đông Dương ở cao nguyên miền Trung Việt Nam"; J. Kemlin (1917) với "Lễ nghi thức nông nghiệp của người Rơ ngao".
    • Emily A. Lavenda sử dụng các khái niệm "phương thức mưu sinh", "phương cách sinh tồn" để phân loại các cấp độ thu lượm và sản xuất lương thực.
    • Frank Ellis (2000) nghiên cứu các loại nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, vật chất, con người, tài chính, xã hội) trong xóa đói giảm nghèo.
    • Khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1998) chuẩn hóa khung phân tích nguồn lực và thể chế.
    • Koos Neefjes (2000) và Kasi Eswarappa (2012) phân tích mối quan hệ giữa chính sách sinh kế, suy thoái môi trường và phương thức sử dụng nguồn vốn của cộng đồng bản địa.
  2. Các nghiên cứu của học giả trong nước về sinh kế dân tộc thiểu số:

    • Nghiên cứu về nông nghiệp truyền thống, nương rẫy và ruộng nước Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo (các bài viết trên Tạp chí Dân tộc học và công trình chuyên khảo "Dân tộc Cơ Ho ở Việt Nam").
    • Nghiên cứu phân loại hoạt động kinh tế tộc người của Phan Ngọc Chiến ("Các Dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam"), Nguyễn Văn Diệu ("Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng"), Trần Bình ("Tập quán hoạt động kinh tế của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam"), Ngô Đức Thịnh ("Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên").
    • Tiếp cận sinh kế hiện đại trong nhân học và xã hội học: Nguyễn Văn Sửu ("Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo"); Ngô Thị Phương Lan với các nghiên cứu về sinh kế nhóm Môn-Khmer ở Bình Phước, huyện Cần Giờ, cư dân đảo Kiên Hải; Huỳnh Ngọc Thu về hoạt động kinh tế các tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ; Tạ Hữu Dực về tái định cư thủy điện Sơn La; Phạm Thị Thu Hà về người Tày ở Lạng Sơn; Bùi Bích Lan về người Kháng ở Sơn La; Nguyễn Đăng Hiệp Phố về người Mạ tại Vườn quốc gia Cát Tiên.
  3. Các nghiên cứu chuyên biệt về người Chil:

    • Các công trình của Phan Ngọc Chiến, Bùi Minh Đạo, Nguyễn Văn Diệu chỉ ra nét đặc thù về canh tác nương rẫy trồng bắp (ngô) và lối sống gắn với rừng núi cao của người Chil so với các nhóm Cơ Ho khác (như Srê làm ruộng nước).
    • Nguyễn Viết Cường với nghiên cứu về đặc điểm kinh tế - xã hội của người Chil tại xã Đạ Sar.
    • Phạm Thanh Thôi với công trình nghiên cứu về sự biến đổi trong hôn nhân của người Chil ở Lâm Đồng, trong đó phản ánh các yếu tố chuyển dịch kinh tế thị trường làm thay đổi cấu trúc gia đình và đời sống sản xuất.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trước đây đã cung cấp nền tảng lý luận về sinh kế và mô tả lát cắt sinh hoạt kinh tế của đồng bào Tây Nguyên, song chưa có công trình nào khảo sát toàn diện sinh kế người Chil đặt trong không gian chức năng cụ thể của Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang (phân định vùng lõi, vùng đệm, vùng chuyển tiếp). Luận án định vị nghiên cứu vào việc làm rõ sự chuyển đổi từ mô hình kinh tế tự cấp tự túc dựa vào khai thác tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, nông nghiệp thương mại, dịch vụ du lịch và chi trả dịch vụ môi trường rừng, đánh giá năng lực thích ứng và các xung đột sinh thái - xã hội tại địa bàn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp hai lý thuyết nhân học chuyên ngành:

  1. Lý thuyết Sinh thái văn hóa (Cultural Ecology): Khởi xướng bởi Julian Steward, lý thuyết này xem xét văn hóa và sinh kế như một hệ thống thích nghi của con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Môi trường quy định phương thức mưu sinh, trong khi các chuẩn mực văn hóa, tri thức địa phương và cấu trúc xã hội đóng vai trò điều chỉnh hành vi khai thác tài nguyên.
  2. Lý thuyết Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - DFID): Phân tích sinh kế dựa trên 5 nguồn vốn (tự nhiên, vật chất, tài chính, con người, xã hội), chịu tác động bởi bối cảnh dễ bị tổn thương (thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh) cùng các thể chế, chính sách và tiến trình quản lý để định hình các chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.

Khung phân tích của luận án kết nối các thành tố:

  • Đầu vào: Môi trường sinh thái, tri thức địa phương, chính sách nhà nước, kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật.
  • Tiến trình: Biến đổi theo thời gian từ sinh kế truyền thống sang sinh kế hiện nay.
  • Đầu ra: Xu hướng biến đổi và mức độ phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong Nhân học:

  1. Phương pháp Điền dã dân tộc học (phương pháp định tính chủ đạo):

    • Quan sát tham dự: Ghi chép nhật ký điền dã về cảnh quan, bố trí cư trú, tập quán canh tác nông nghiệp, dệt thổ cẩm, kinh doanh du lịch, khai thác lâm sản và thực hành nghi lễ.
    • Phỏng vấn sâu: Tiến hành 20 cuộc phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng: cán bộ quản lý cấp huyện, xã, thôn và các chủ hộ gia đình người Chil tham gia nhiều hoạt động sinh kế (công chức, làm nương rẫy, trồng cà phê, nhận khoán bảo vệ rừng, kinh doanh dịch vụ).
    • Thảo luận nhóm: Thực hiện 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung tại các điểm nghiên cứu về sự thay đổi sinh kế, chính sách đất đai và việc thích ứng với các quy định bảo tồn rừng.
  2. Phương pháp Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (phương pháp định lượng):

    • Kế thừa và phân tích bộ dữ liệu từ Đề tài "Nghiên cứu kinh tế, văn hóa - xã hội của các tộc người thiểu số tại chỗ ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang theo định hướng phát triển bền vững" do PGS. Huỳnh Ngọc Thu làm chủ nhiệm.
    • Tổng quy mô mẫu: 1.065 phiếu hộ gia đình theo phương pháp chọn mẫu hạn ngạch (quota sampling) tại khu vực Lang Biang.
    • Dữ liệu được nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.
Thành phần dân tộc trong mẫu khảo sát Số phiếu (Hộ) Tỷ lệ (%)
Người Chil 669 62,8%
Người Kinh (Việt) 238 22,3%
Người Srê 87 8,2%
Người Lạt (Lạch) 60 5,6%
Các tộc người thiểu số khác 11 1,0%
Tổng cộng 1.065 100,0%
  1. Phương pháp chuyên gia và phân tích tổng hợp: Tham vấn ý kiến của các nhà dân tộc học, nhân học về văn hóa và tập quán tộc người; đối chiếu dữ liệu văn bản lưu trữ, báo cáo kinh tế - xã hội địa phương với tư liệu điền dã thực địa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu

Chương này tổng kết hệ thống tài liệu nghiên cứu, làm rõ các khái niệm công cụ (sinh kế, sinh kế truyền thống, biến đổi, khu dự trữ sinh quyển) và phác thảo bức tranh tổng thể về địa bàn khảo sát.

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên huyện Lạc Dương: Huyện Lạc Dương có độ cao trung bình 1.600m – 1.700m so với mực nước biển (nơi có các đỉnh núi cao như Bi Doup 2.167m, Chư Yên Du), tổng diện tích tự nhiên 131.233 ha (trong đó đất lâm nghiệp chiếm 114.976 ha, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 7.036 ha). Đây là đầu nguồn sông Đa Nhim và toàn bộ địa giới nằm trọn trong 3 phân vùng của Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang (tổng diện tích toàn khu là 275.439 ha: vùng lõi 34.943 ha, vùng đệm 72.232 ha, vùng chuyển tiếp 168.264 ha).
  • Dân số và tổ chức xã hội người Chil: Theo số liệu Công an tỉnh Lâm Đồng năm 2017, toàn tỉnh có 13.948 nhân khẩu người Chil, riêng huyện Lạc Dương có 3.983 nhân khẩu (chiếm 24,26% tổng số người Chil toàn tỉnh).
  • Thiết chế xã hội: Đơn vị cư trú truyền thống là bon (làng) mang tính tự quản khép kín dưới sự điều hành của Già làng (quăng bon). Cơ cấu xã hội vận hành theo chế độ mẫu hệ, cư trú bên vợ, hôn nhân con cô con cậu, gia đình lớn mẫu hệ ở nhà dài. Hiện nay, thiết chế Trưởng thôn hành chính dần thay thế quyền lực tuyệt đối của Già làng; cấu trúc gia đình chuyển dịch sang gia đình hạt nhân; tín ngưỡng đa thần (vạn vật hữu linh) dần được thay thế khi đa số đồng bào chuyển sang theo đạo Tin Lành và Công giáo.
Chủ thể giải quyết bất hòa gia đình trong thôn Số lượng người lựa chọn Tỷ lệ (%)
Già làng 349 52,3%
Người làm việc trong chính quyền 166 24,8%
Người đứng đầu dòng họ 92 13,8%
Người đứng đầu tôn giáo 62 9,1%
Thầy cúng 0 0,0%
Tổng cộng 669 100,0%
  • Đặc điểm 3 điểm nghiên cứu:
    • Xã Đưng K’nớ (vùng lõi): Diện tích tự nhiên 19.582,58 ha (đất lâm nghiệp 17.873,87 ha), dân số năm 2017 là 2.378 người (dân tộc Cơ Ho chiếm trên 94%). Địa bàn trước năm 2015 gần như cô lập vào mùa mưa, kinh tế thuần nông trồng cà phê và nhận khoán bảo vệ rừng.
    • Xã Đạ Sar (vùng đệm): Diện tích tự nhiên 24.810 ha (đất rừng 21.081 ha, đất canh tác 1.798,74 ha), dân số năm 2017 là 4.871 người (người Cơ Ho chiếm trên 91%). Kinh tế chủ đạo là cà phê kết hợp bảo vệ rừng đầu nguồn sông Đa Nhim.
    • Thị trấn Lạc Dương (vùng chuyển tiếp): Diện tích 7.070 ha, dân số năm 2017 là 10.790 người (người Kinh chiếm 60–65%, người Cơ Ho chiếm tỷ lệ còn lại). Kinh tế đa dạng: thương mại, dịch vụ du lịch, nông nghiệp công nghệ cao.

Chương 2: Sinh kế truyền thống của người Chil (1975 - 1986)

Chương 2 phục dựng hệ thống mưu sinh cổ truyền của người Chil dựa trên sự hòa hợp với hệ sinh thái rừng núi Lang Biang trong giai đoạn trước Đổi mới.

  • Tri thức phân loại và quản trị rừng: Người Chil phân chia rừng thành 4 loại hình không gian với các quy tắc ứng xử nghiêm ngặt:
    1. Rừng già (rừng thiêng): Nơi ngự trị của thần linh, bảo tồn nguồn gen cổ và cây gỗ lớn (đường kính nhiều mét); cấm ngặt việc chặt phá, phát hoang, chỉ Già làng/thầy cúng mới được vào thực hiện nghi lễ hiến tế dưới chân núi.
    2. Rừng ma: Khu vực nghĩa địa chôn cất người chết, đóng vai trò như vùng đệm tâm linh ngăn con người xâm lấn rừng già; cộng đồng tuyệt đối không xâm phạm.
    3. Rừng đầu nguồn: Nơi bảo vệ mạch nước suối và sinh dưỡng cho bon làng; cấm khai thác, ai vi phạm bị xử phạt nặng theo luật tục.
    4. Rừng khai thác (rừng chồi): Rừng nghèo, cây bụi, đất bằng ven bìa rừng được phép phát rẫy canh tác.
  • Tập quán sở hữu và kỹ thuật canh tác nương rẫy:
    • Đất rừng thuộc sở hữu chung của cộng đồng làng/dòng họ (kơnơua utiah mpol). Ranh giới rừng ước lệ theo tầm mắt nhìn từ ngọn cây cao, đánh dấu bằng rãnh đào hoặc gốc cây. Định kỳ tổ chức lễ xơndo nơhar bri utiah để người già chỉ dẫn địa giới cho con cháu.
    • Canh tác nương rẫy luân chuyển theo chu kỳ: Đốt vạt rừng chồi lấy tro làm phân bón tự nhiên và diệt mầm bệnh, canh tác 2–3 năm rồi bỏ hóa 15–20 năm để thảm thực vật tự tái sinh phục hồi độ phì nhiêu. Tuyệt đối không cày xới, lật lớp đất mặt nhằm chống xói mòn.
    • Nông lịch: Tháng 2 bắt đầu phát rẫy, phơi khô 1–1,5 tháng; hạ tuần tháng 4 đốt rẫy; đầu tháng 5 (đón mưa đầu mùa) tiến hành chọc lỗ tra hạt. Cây lương thực chủ lực là bắp (ngô), kết hợp lúa rẫy, bầu bí, đậu.
  • Khai thác lâm thổ sản và nghề phụ gia đình:
    • Khai thác gỗ làm nhà sàn (chỉ lấy gỗ cà chít làm cột, gỗ sao/dầu làm vách ở rừng chồi; cấm lấy gỗ quý pơmu, căm xe, cẩm lai trừ trường hợp Già làng qua đời được cộng đồng cho phép và phải cúng xin phép).
    • Thu hái tre, mây, nứa, lồ ô, vỏ cây (đrao) đan gùi, nong, nia; lấy mật ong rừng vào tháng 2–3 âm lịch (giữ lại gốc tổ để đàn ong tái tạo).
    • Săn bắt thú nhỏ (heo rừng, chồn, thỏ, nhím, khỉ) bằng ná, bẫy gài vào mùa nông nhàn (tháng 7–8 và mùa khô); không săn bắt thú lớn linh thiêng ở rừng già. Nghề dệt thổ cẩm và rèn nông cụ tự cấp tự túc.

Chương 3: Sinh kế của người Chil hiện nay

Chương này phân tích quá trình chuyển đổi toàn diện cấu trúc sinh kế của người Chil từ sau năm 1986 đến nay.

  • Biến đổi trong khai thác và quản lý rừng:
    • Chuyển đổi từ quyền sở hữu cộng đồng và luật tục sang sự quản lý hành chính của Nhà nước thông qua Ban quản lý Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà và các công ty lâm nghiệp.
    • Hình thành sinh kế mới gắn với chính sách: Giao khoán bảo vệ rừng (GKBVR) và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), tạo nguồn thu nhập tiền mặt ổn định, giảm thiểu tình trạng phá rừng làm rẫy.
  • Biến đổi trong sản xuất nông nghiệp:
    • Chuyển dịch mạnh mẽ từ canh tác nương rẫy luân canh tự cấp sang trồng cây công nghiệp dài ngày (cà phê chè Catimor) và rau hoa thương phẩm. Cà phê trở thành cây trồng chủ lực tại cả 3 xã/thị trấn (riêng xã Đưng K’nớ có trên 750 ha cà phê).
    • Áp dụng tiến bộ kỹ thuật: phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống tưới tự động, mô hình nhà kính, nhà màng (đặc biệt tại thị trấn Lạc Dương).
    • Chăn nuôi chuyển từ thả rông gia súc sang nuôi nhốt chuồng trại có kiểm soát dịch bệnh.
  • Sự xuất hiện của các dạng thức sinh kế phi nông nghiệp:
    • Dịch vụ và du lịch cộng đồng: Tham gia chuỗi dịch vụ du lịch sinh thái tại VQG Bidoup - Núi Bà, biểu diễn cồng chiêng, bán hàng lưu niệm thổ cẩm tại chân núi Lang Biang.
    • Kinh tế thị trường và lao động làm thuê: Phát triển mạng lưới buôn bán tạp hóa, thu mua nông sản, làm công nhân trong các trang trại nông nghiệp công nghệ cao của người Kinh, tham gia bộ máy hành chính nhà nước.

Chương 4: Xu hướng biến đổi và giải pháp phát triển sinh kế người Chil

Chương này đánh giá các động lực tác động, nhận diện các chiều cạnh bền vững và đề xuất hệ thống giải pháp.

  • Các yếu tố tác động chủ yếu:
    1. Chính sách đất đai và lâm nghiệp: Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, quy hoạch phân khu bảo tồn nghiêm ngặt của Khu dự trữ sinh quyển hạn chế không gian canh tác nương rẫy truyền thống.
    2. Chính sách định canh định cư và di dân: Các chương trình quy hoạch lại điểm dân cư tập trung làm thay đổi cấu trúc cư trú phân tán theo dòng họ sang thôn ấp hành chính.
    3. Kinh tế thị trường và phát triển hạ tầng: Tuyến đường ĐT723 (nối Đà Lạt - Nha Trang) và đường Đông Trường Sơn mở rộng giao thương, đưa kinh tế tiền tệ thâm nhập sâu vào đời sống tộc người.
  • Đánh giá tính bền vững:
    • Kinh tế: Thu nhập tiền mặt tăng lên nhờ cà phê và tiền giao khoán bảo vệ rừng, nhưng dễ bị tổn thương trước biến động giá nông sản thế giới và thời tiết cực đoan (sương muối).
    • Xã hội: Phân hóa giàu nghèo xuất hiện giữa các hộ tiếp cận thị trường nhanh và các hộ thiếu đất sản xuất; quan hệ tương trợ cộng đồng truyền thống có xu hướng giảm sút.
    • Văn hóa: Nghề dệt thổ cẩm, kiến trúc nhà sàn dài và tri thức bản địa đối với rừng bị mai một dần trước làn sóng hiện đại hóa.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    1. Quy hoạch đất sản xuất ổn định, hỗ trợ kỹ thuật thâm canh cà phê bền vững có chứng chỉ (UTZ, Rainforest Alliance).
    2. Phát triển kinh tế sinh thái dưới tán rừng: trồng cây dược liệu, nấm bản địa, nuôi ong lấy mật tự nhiên gắn với bảo vệ rừng.
    3. Xây dựng các mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (CBET), tạo điều kiện cho người Chil trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ dịch vụ du lịch.
    4. Lồng ghép tri thức địa phương vào các quy chế quản lý rừng của VQG Bidoup - Núi Bà; bảo tồn văn hóa cồng chiêng và dệt thổ cẩm truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

  • Về lý luận: Luận án bổ sung nguồn tư liệu thực chứng cho chuyên ngành Nhân học sinh thái và Nhân học kinh tế tại Việt Nam; làm sáng tỏ cơ chế thích ứng sinh thái - văn hóa của một nhóm tộc người tại chỗ ở vùng cao Tây Nguyên trong bối cảnh chịu sự tác động đồng thời của chính sách bảo tồn sinh quyển quốc tế và kinh tế thị trường.
  • Về thực tiễn:
    • Phục dựng có hệ thống bức tranh sinh kế truyền thống của người Chil giai đoạn 1975–1986, đặc biệt là hệ thống 4 phân cấp quản trị rừng dân gian (rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn, rừng khai thác) và quy tắc luân canh phục hồi rừng chồi 15–20 năm.
    • Nhận diện toàn diện sự biến đổi sinh kế hiện nay trên 3 không gian chức năng (vùng lõi, vùng đệm, vùng chuyển tiếp) của Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang.
    • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho các nhà hoạch định chính sách, chính quyền địa phương tỉnh Lâm Đồng và Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển trong việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, hoàn thiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và xây dựng mô hình phát triển sinh kế hài hòa với bảo tồn đa dạng sinh học.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Chính sách đất sản xuất và lâm nghiệp: Đẩy mạnh việc giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài; điều chỉnh mức chi trả tiền giao khoán bảo vệ rừng phù hợp với chỉ số giá cả sinh hoạt thực tế nhằm bảo đảm nguồn thu đủ sống cho người dân vùng lõi và vùng đệm.
  2. Chuyển giao khoa học kỹ thuật: Hướng dẫn kỹ thuật phòng chống sương muối cho cây cà phê; phát triển các giống cây trồng bản địa có giá trị kinh tế cao dưới tán rừng.
  3. Bảo tồn văn hóa gắn với sinh kế: Hỗ trợ khôi phục nghề dệt thổ cẩm truyền thống thông qua việc thành lập các tổ hợp tác sản xuất gắn với chuỗi cung ứng du lịch; duy trì không gian văn hóa cồng chiêng gắn liền với đời sống kinh tế - tâm linh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn khảo sát của luận án tập trung chủ yếu tại huyện Lạc Dương (nơi người Chil cư trú tập trung nhất trong Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang), chưa mở rộng so sánh sâu với các nhóm người Chil sinh sống tại các địa bàn hành chính lân cận như huyện Đam Rông, Lâm Hà, Đức Trọng hay TP. Đà Lạt. Ngoài ra, việc thống kê hộ khẩu tại địa phương thường gộp 6 nhóm địa phương thành tên gọi chung là dân tộc Cơ Ho gây ra khó khăn nhất định trong việc tách biệt tuyệt đối các chuỗi số liệu thứ cấp qua các năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu so sánh sinh kế giữa các nhóm địa phương khác nhau của dân tộc Cơ Ho (giữa nhóm Chil vùng cao với nhóm Srê làm ruộng nước thung lũng hoặc nhóm Nộp, Cờ Dòn).
    • Đánh giá tác động dài hạn của biến đổi khí hậu (hiện tượng thời tiết cực đoan, hạn hán, sương muối) và biến động thị trường nông sản toàn cầu đối với mức độ an toàn sinh kế của đồng bào DTTS tại các khu bảo tồn thiên nhiên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học, Văn hóa học, Lâm nghiệp và Quản lý tài nguyên môi trường. Phần cơ sở lý thuyết sinh thái văn hóa và phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp điều tra định lượng là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Ban Dân tộc tỉnh Lâm Đồng, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban quản lý Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang trong việc thiết kế các dự án sinh kế dưới tán rừng, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững cộng đồng bản địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong sinh kế truyền thống (1975–1986), người Chil phân loại rừng như thế nào và có ý nghĩa gì đối với bảo tồn?

Người Chil phân loại rừng thành 4 nhóm: Rừng già (rừng thiêng) ngự trị của thần linh, cấm chặt phá; Rừng ma nơi chôn cất người chết, đóng vai trò vùng đệm tâm linh cấm xâm hại; Rừng đầu nguồn bảo vệ nguồn nước ngọt của bon làng, cấm khai thác; Rừng khai thác (rừng chồi) là rừng nghèo được phép phát rẫy canh tác. Tri thức bản địa này tạo nên cơ chế tự quản lý rừng hiệu quả, giúp bảo vệ nguyên vẹn các cánh rừng nguyên sinh và nguồn nước sinh tồn của cộng đồng.

2. Chu kỳ canh tác nương rẫy truyền thống của người Chil diễn ra như thế nào?

Người Chil chỉ khai phá rừng chồi, chặt hạ cây nhỏ đốt lấy tro cải tạo đất và diệt khuẩn mà không lật xới lớp đất mặt để tránh xói mòn. Họ gieo tỉa bắp và lúa nương trong 2–3 năm, sau đó bỏ hóa khu đất trong 15–20 năm để thảm thực vật tự nhiên tái sinh phục hồi độ phì trước khi quay lại canh tác.

3. Cây trồng nào giữ vai trò chủ lực trong chuyển đổi sinh kế nông nghiệp của người Chil hiện nay?

Cây trồng chủ lực hiện nay của người Chil là cây cà phê chè (Catimor), được trồng với diện tích lớn tại cả vùng lõi (Đưng K’nớ có trên 750 ha), vùng đệm (Đạ Sar) và vùng chuyển tiếp (thị trấn Lạc Dương), đem lại nguồn thu nhập tiền mặt chính thay thế cho nông nghiệp tự cấp tự túc.

4. Quy mô và phương pháp thu thập dữ liệu định lượng của luận án được thực hiện ra sao?

Luận án kế thừa và phân tích bộ dữ liệu 1.065 phiếu điều tra hộ gia đình theo phương pháp chọn mẫu quota từ đề tài nghiên cứu do PGS. Huỳnh Ngọc Thu làm chủ nhiệm. Trong đó, người Chil chiếm 669 phiếu (62,8%), người Kinh 238 phiếu (22,3%), người Srê 87 phiếu (8,2%), người Lạch 60 phiếu (5,6%) và dân tộc khác 11 phiếu (1,0%), được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0.

5. Những dạng thức sinh kế mới nào đã xuất hiện tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang?

Bên cạnh nông nghiệp hàng hóa và giao khoán quản lý bảo vệ rừng, người Chil hiện nay tham gia vào các hoạt động dịch vụ - du lịch sinh thái cộng đồng, biểu diễn không gian văn hóa cồng chiêng, bán hàng lưu niệm thổ cẩm, làm công nhân trang trại nông nghiệp công nghệ cao và kinh doanh thương mại nhỏ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hương đã làm rõ tiến trình chuyển đổi sinh kế của người Chil tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang từ mô hình nương rẫy truyền thống dựa trên tri thức bản địa sang mô hình kinh tế thị trường đa dạng hóa. Công trình chứng minh năng lực thích ứng linh hoạt của cộng đồng bản địa trước những thay đổi về thể chế quản lý rừng và hội nhập kinh tế, đồng thời chỉ ra những nguy cơ xói mòn văn hóa và tổn thương sinh thái. Đây là công trình nghiên cứu nhân học thực chứng có đóng góp khoa học rõ nét, cung cấp luận cứ thực tiễn giá trị cho chiến lược phát triển bền vững vùng đệm và vùng lõi các khu dự trữ sinh quyển tại Việt Nam.