Luận Án Tiến Sĩ Về Sinh Kế Của Người Chil Tại Khu Dự Trữ Sinh Quyển Lang Biang Tỉnh Lâm Đồng

Chuyên khảo Biến đổi sinh kế của người chil tại khu dự trữ sinh quyển lang biang phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Nhân học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

191
15
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.2.1. Mục đích nghiên cứu

0.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Câu hỏi nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

0.5.1. Phương pháp luận

0.5.2. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp mới của luận án

0.7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

0.8. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.1.1. Những nghiên cứu về hoạt động sinh kế nói chung

1.1.2. Những nghiên cứu về sinh kế của người Chil

1.1.3. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố

1.2. Một số khái niệm

1.3. Khái quát về huyện Lạc Dương và người Chil tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang

1.3.1. Tổng quan về huyện Lạc Dương

1.3.2. Khái quát về người Chil tại địa bàn nghiên cứu

1.3.3. Tổng quan về ba điểm nghiên cứu

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: SINH KẾ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHIL

2.1. Khai thác rừng

2.2. Phân loại rừng. Quy tắc về khai phá rừng

2.3. Khai thác các sản phẩm từ rừng

2.4. Hoạt động sản xuất nông nghiệp

2.5. Canh tác nương rẫy

2.6. Nghề thủ công

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: SINH KẾ CỦA NGƯỜI CHIL HIỆN NAY

3.1. Biến đổi trong hoạt động khai thác rừng

3.2. Biến đổi trong phân loại rừng

3.3. Biến đổi trong quy tắc khai phá rừng

3.4. Trồng rừng và bảo vệ rừng

3.5. Khai thác các sản phẩm từ rừng

3.6. Biến đổi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

3.7. Biến đổi trong canh tác nương rẫy

3.8. Biến đổi trong chăn nuôi

3.9. Biến đổi trong nghề thủ công

3.10. Biến đổi trong hình thức trao đổi hàng hóa

3.11. Một số hình thức sinh kế mới

3.12. Các hoạt động phục vụ du lịch cộng đồng

3.13. Các sinh kế khác

3.14. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ NGƯỜI CHIL

4.1. Những yếu tố tác động đến sự biến đổi sinh kế của người Chil

4.2. Chính sách đất đai

4.3. Thực trạng di dân

4.4. Kinh tế hàng hóa và quá trình hội nhập

4.5. Xu hướng biến đổi và phát triển bền vững ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang

4.5.1. Xu hướng biến đổi sinh kế và sự phát triển bền vững kinh tế

4.5.2. Xu hướng biến đổi sinh kế và sự phát triển bền vững xã hội

4.5.3. Xu hướng biến đổi sinh kế và sự phát triển bền vững văn hoá

4.6. Giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang

4.6.1. Phát triển sinh kế cộng đồng người Chil ở KDTSQ Lang Biang

4.6.2. Chính sách về phát huy văn hóa truyền thống của người Chil

4.6.3. Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học rừng Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang

4.6.4. Phát triển sinh kế dưới tán rừng

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu

Tổng quan nghiên cứu về sinh kế của người Chil tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang đã chỉ ra rằng sinh kế là yếu tố quan trọng giúp cộng đồng tồn tại và phát triển trong môi trường tự nhiên đặc thù. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sinh kế không chỉ là hoạt động kinh tế mà còn liên quan chặt chẽ đến văn hóa và xã hội. Juliam Steward trong lý thuyết sinh thái văn hóa đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người và môi trường, cho thấy rằng các hoạt động sinh kế cần phải thích ứng với điều kiện tự nhiên và xã hội để đảm bảo sự bền vững. Nghiên cứu về sinh kế của người Chil cần xem xét những yếu tố tác động từ bên ngoài như chính sách phát triển kinh tế, di dân, và sự thay đổi môi trường. Việc phân tích các nghiên cứu trước đây sẽ giúp làm rõ hơn về đặc điểm sinh kế của người Chil, từ đó đưa ra những hướng nghiên cứu mới nhằm bảo tồn và phát triển bền vững.

II. Sinh kế truyền thống của người Chil

Sinh kế truyền thống của người Chil chủ yếu dựa vào khai thác rừng và nông nghiệp nương rẫy. Hoạt động khai thác rừng không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm mà còn là nguồn thu nhập chính cho cộng đồng. Người Chil phân loại rừng thành nhiều loại dựa trên tính chất và mục đích sử dụng, từ đó áp dụng các quy tắc khai thác hợp lý nhằm bảo vệ tài nguyên. Nông nghiệp nương rẫy cũng đóng vai trò quan trọng, với các loại cây trồng chủ yếu là ngô, lúa, và các loại cây ăn quả. Nghề thủ công, đặc biệt là dệt vải, cũng là một phần không thể thiếu trong sinh kế truyền thống, thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo của người Chil. Việc duy trì các hoạt động này không chỉ giúp người Chil duy trì cuộc sống mà còn bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của họ.

III. Sinh kế của người Chil hiện nay

Sinh kế của người Chil hiện nay đang trải qua nhiều biến đổi do tác động của các chính sách phát triển và hội nhập kinh tế. Sự chuyển đổi từ khai thác rừng sang các hoạt động sản xuất nông nghiệp bền vững hơn là một trong những xu hướng chính. Trong khi khai thác rừng vẫn diễn ra, nhưng đã có sự thay đổi trong cách thức và quy trình để giảm thiểu tác động đến môi trường. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện đại hơn, như trồng cà phê và hoa màu, đã được áp dụng để tăng thu nhập. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch cộng đồng cũng mở ra cơ hội mới cho người Chil, giúp họ không chỉ bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra nguồn thu nhập ổn định. Tuy nhiên, những biến đổi này cũng đặt ra nhiều thách thức về bảo tồn tài nguyên và văn hóa truyền thống.

IV. Xu hướng biến đổi và giải pháp phát triển sinh kế người Chil

Xu hướng biến đổi sinh kế của người Chil đang chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như chính sách đất đai, di dân, và quá trình hội nhập kinh tế. Chính sách đất đai không đồng bộ đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt đất sản xuất, ảnh hưởng đến khả năng sinh kế của người Chil. Để phát triển sinh kế bền vững, cần có các giải pháp cụ thể như phát triển mô hình kinh tế hợp tác, bảo tồn văn hóa truyền thống, và nâng cao năng lực cộng đồng trong quản lý tài nguyên. Các chương trình hỗ trợ từ nhà nước và tổ chức phi chính phủ cũng cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của người Chil, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cả về kinh tế và văn hóa.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề, phân tích vấn đề. Bên cạnh phƣơng pháp truyền thống là điền dã dân tộc học, hiện nay các học giả thƣờng sử dụng phƣơng pháp liên ngành, đa ngành nhằm phân tích đa chiều trong hoạt động sinh kế để nhận diện và phân tích những yếu tố tác động đến sự biến đổi của hoạt động sinh kế hiện nay so với truyền thống. Những công trình nghiên cứu thời gian sau này đều thống nhất rằng, do sự tác động của các chính sách, sự giao lƣu văn hóa giữa các dân tộc, yếu tố tôn giáo, sự thay đổi môi trƣờng sống,… là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay 11 Luận án tiến sĩ đổi sinh kế hiện nay. Tuy nhiên sự thay đổi này theo chiều hƣớng tích cực, điều này đƣợc thể hiện qua các công trình nghiên cứu nhƣ: Tạ Hữu Dực trong Phục hồi sinh kế tại các cộng đồng tái định cư thủy điện Sơn La và vai trò của tri thức địa phương tộc người [28]; Phạm Thị Thu Hà trong Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay [54]; Ngô Thị Phƣơng Lan trong Sinh kế của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer ở Bình Phước trong bối cảnh phát triển hiện nay [72], Mối quan hệ giữa môi trường và sinh kế trong hoạt động kinh tế biển của cư dân huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang [75], Các dạng thức sinh kế của cư dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh: sự tương tác của yếu tố chính sách, thị trường và môi trường [73]; Bùi Bích Lan trong Hoạt động mưu sinh của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La [78]; Nguyễn Đăng Hiệp Phố trong Sinh kế người Mạ ở vườn Quốc gia Cát Tiên [92]; Huỳnh Ngọc Thu trong Hoạt động kinh tế của các tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ: truyền thống và biến đổi [95]; Nguyễn Văn Sửu với công trình nghiên cứu Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo [88]; ….

Đặc biệt, công trình nghiên cứu về khung sinh kế của Nguyễn Văn Sửu đ đƣợc nhiều NCS sử dụng làm khung phân tích chính trong luận án. Qua tổng quan các công trình nghiên cứu từ sau 1975 đến nay luận án nhận thấy, nghiên cứu về sinh kế của các học giả trong nƣớc rất đa dạng, phong phú. Càng về sau các công trình nghiên cứu càng đi sâu vào phân tích sâu từng vấn đề cụ thể, từ đó đƣa ra những định hƣớng cũng nhƣ giải pháp nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn bao quát và khách quan. Đây chính là nguồn tƣ liệu quý giúp chúng tôi có cái nhìn đa chiều trong tiếp cận và nghiên cứu vấn đề mà luận án hƣớng đến.

Những nghiên cứu về sinh kế của người Chil Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp do đó hoạt động sinh kế nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với các dân tộc thiểu số. Các tác giả khi nghiên cứu về hoạt động sinh kế trong truyền thống của các dân tộc ở Lâm Đồng nói chung, ngƣời Chil nói riêng nhƣ: [18], [26], [27], [35],. đều cho rằng các dân tộc thiểu số tại chỗ chủ 12 Luận án tiến sĩ yếu sinh sống bằng nghề trồng trọt. Tuy nhiên, do đặc thù địa hình nên có sự khác nhau về hình thức canh tác cũng nhƣ hình thức cƣ trú giữa các nhóm địa phƣơng.

Khi đề cập đến sinh kế chủ đạo của ngƣời Cơ Ho, Phan Ngọc Chiến [18] cho rằng đó là trồng trọt, ngoài ra còn có chăn nuôi và khai thác tự nhiên. Theo ông, tất cả các nhóm địa phƣơng của dân tộc Cơ Ho đều làm rẫy bằng lối du canh theo chu kỳ, cây lƣơng thực chính của các nhóm Cơ Ho là lúa, riêng nhóm Chil là b p. Trong bài viết của mình, Nguyễn Văn Diệu cũng cho rằng, các dân tộc ít ngƣời ở Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý, địa hình nên mỗi nhóm có những n t canh tác riêng biệt.

“Các dân tộc ít người tỉnh Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt. Các nhóm sinh sống trên những vùng núi cao, vùng xa xôi hẻo lánh ít có điều kiện tiếp xúc với các dân tộc khác như người Chil, người Mạ,. đốt rừng làm rẫy là phương thức canh tác chủ yếu” [26]. Đồng quan điểm trên, Bùi Minh Đạo cũng cho rằng, “Trồng trọt là hoạt động sản xuất truyền thống chính yếu của người Cơ Ho.

Tùy theo địa hình và đất đai mà tồn tại ở các nhóm địa phương những hình thức trồng trọt khác nhau” [35]. Sau khi đất nƣớc tiến hành đổi mới (1986), những công trình nghiên cứu riêng về các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng đƣợc các học giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Khi phân tích, đánh giá những tác động về các chính sách kinh tế x hội dƣới thời Pháp – Mỹ, đối với các hoạt động sinh kế của các dân tộc tại chỗ ở Lâm Đồng, các nhà nghiêu cứu cho rằng, với chính sách dồn dân lập ấp chiến lƣợc, tƣớc đoạt đất đai, lập đồn điền đ làm cho cuộc sống cũng nhƣ hoạt động sinh kế của các dân tộc tại chỗ có nhiều biến đổi, đƣợc thể hiện qua một số công trình nghiên cứu nhƣ: [26], [36], [45]. Trong thời gian gần đây, các học giả có xu hƣớng đi sâu nghiên cứu từng cộng đồng dân tộc cụ thể, kể cả các nhóm địa phƣơng nhƣ nhóm ngƣời Chil.

Do đó, các bài viết, công trình nghiên cứu về ngƣời Chil – với tƣ cách là một nhóm độc lập b t đầu xuất hiện nhƣ: [19], [46], [96], [98]. Trong bài viết Một số đặc điểm kinh tế - xã hội của người Chil ở xã Đa Sar [23], Nguyễn Viết Cƣờng phân tích khá chi tiết những thay đổi của cộng đồng ngƣời Chil từ sau khi đất nƣớc giải phóng từ kinh tế, 13 Luận án tiến sĩ văn hóa, x hội, tôn giáo. Tuy nhiên, bài viết chỉ gói gọn trong một xã thuộc vùng sâu xa của huyện Lạc Dƣơng. Công trình nghiên cứu về ngƣời Chil gần đây nhất là của Phạm Thanh Thôi với tựa đề Sự biến đổi trong hôn nhân của người Chil ở Lâm Đồng.

Mặc dù công trình nghiên cứu về hôn nhân, nhƣng trong chƣơng 1, Phạm Thanh Thôi dành gần 10 trang nói về những yếu tố chủ quan và khách quan đ tác động làm cho sinh kế của ngƣời Chil có những thay đổi nhất định, “về phương diện sản xuất kinh tế đã có nhiều chuyển đổi. Họ đã có quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng các sản phẩm kinh tế trong bối cảnh các quan hệ kinh tế thị trường”[96]. Qua tổng quan những công trình nghiên cứu trên, các bài viết giúp luận án nhận diện đƣợc các hoạt động sinh kế truyền thống cũng nhƣ sự biến đổi của các hoạt động sinh kế qua các thời kỳ lịch sử của các dân tộc tại chỗ ở Lâm Đồng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu về sự biến đổi sinh kế hiện nay của ngƣời Chil so với truyền thống.

Do đó, việc nghiên cứu để góp thêm nguồn tƣ liệu khoa học liên quan đến sự biến đổi sinh kế của ngƣời Chil trong bối cảnh phát triển bền vững là vấn đề thiết thực. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố Trong khuôn khổ luận án, chƣa thể tổng quan và đánh giá đầy đủ các nghiên cứu liên quan đến sinh kế trƣớc đây. Tuy nhiên, qua tổng quan những công trình trên, chúng tôi có một số nhận xét sau: Về ưu điểm: Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập đến tầm quan trọng của hoạt động sinh kế đối với đời sống các dân tộc nói chung, dân tộc thiểu số nói riêng. Các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ một số vấn đề nhƣ khái niệm sinh kế; tầm quan trọng của sinh kế đối với đời sống con ngƣời, đối với sự phát triển văn hóa, xã hội; sinh kế đối với phát triển bền vững,….

Đây là nguồn tƣ liệu quan trọng giúp luận án có cái nhìn tổng thể, toàn diện và hiểu r hơn những vấn đề lý luận về sinh kế nhƣ: khái niệm, vai trò, tầm quan trọng, khung phân tích cũng nhƣ đƣa ra các chỉ tiêu nghiên cứu, đánh giá về sự biến đổi sinh kế hiện nay so với truyền thống của các dân tộc nói chung, ngƣời Chil nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu về sinh kế luận án có tham khảo, kế thừa các khái niệm về sinh kế, vai trò của sinh 14 Luận án tiến sĩ kế,… từ các tác giả nhƣ Trần Bình, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Thị Tám, Nguyễn Văn Sửu, Ngô Thị Phƣơng Lan, Bùi Minh Đạo,…. Bên cạnh đó, để làm r hơn sự biến đổi trong sinh kế của ngƣời Chil luận án sử dụng phƣơng pháp điền d Nhân học/Dân tộc học nhằm bổ sung tƣ liệu cho luận án. Hạn chế: Mặc dù các công trình nghiên cứu liên quan đến sinh kế rất đa dạng, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tuy nhiên vẫn chƣa có công trình nào chuyên sâu nói về sinh kế của ngƣời Chil.

Và đây cũng là điểm mới của luận án. Một số khái niệm Sinh kế Sinh kế (livelihood) là cách kiếm sống của con ngƣời nói chung trên toàn thế giới. Do đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dƣới nhiều góc độ và tên gọi khác nhau nhƣ: hoạt động mƣu sinh, phƣơng thức mƣu sinh, phƣơng thức sinh tồn, sinh kế, hoạt động kinh tế,. Những công trình đề cập đến nội hàm và các khái niệm liên quan đến sinh kế có thể kể đến nhƣ sau: Công trình “Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh” của Emily A.

Lavenda (do Phan Ngọc Chiến, Hồ Liên Biện dịch) đ sử dụng thuật ngữ “phương thức mưu sinh” và “phương cách sinh tồn” để nói về sinh kế. Theo đó, sinh kế là cách “con người tự tạo ra những phương thức, sử dụng các mối quan hệ giữa họ với nhau và với môi trường tự nhiên để kiếm sống. Sinh tồn là một từ được dùng để chỉ việc thoả mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất để tồn tại của con người, chủ yếu là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở. Những cách khác nhau mà con người ở các xã hội khác nhau dùng để thoả mãn những nhu cầu này được gọi là những phương cách sinh tồn” [48; 418].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ với tiêu đề Luận Án Tiến Sĩ Về Sinh Kế Của Người Chil Tại Khu Dự Trữ Sinh Quyển Lang Biang Tỉnh Lâm Đồng của tác giả Nguyễn Thị Hương, dưới sự hướng dẫn của Huỳnh Ngọc Thu, nghiên cứu về sinh kế của người Chil tại khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu không chỉ phân tích các truyền thống sinh kế của cộng đồng này mà còn xem xét các biến đổi trong bối cảnh hiện đại, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển bền vững và bảo tồn văn hóa của người Chil. Bài viết mang đến cho độc giả những kiến thức quý giá về nhân học và sinh kế, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu cho các lĩnh vực tương tự.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Tân Lạc tỉnh Hoà Bình, nơi nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp, hay Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Hải Đường, huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định, giúp bạn hiểu thêm về vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn. Cuối cùng, Luận văn phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang cũng là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu thêm về sinh kế bền vững trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sinh kế và phát triển cộng đồng.