Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang tạo ra những chuyển dịch sâu sắc về không gian kinh tế và xã hội. Huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai sở hữu tổng diện tích tự nhiên 32.541,2 ha, giữ vị trí cửa ngõ huyết mạch kết nối thành phố Biên Hòa với khoảng cách 15 km và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40 km. Tính đến cuối năm 2016, đất nông nghiệp của huyện chiếm 79,12% tương đương 25.747,9 ha, trong khi đất phi nông nghiệp chiếm 20,88% tương đương 6.793,3 ha. Sự phát triển nhanh chóng của 4 khu công nghiệp tập trung quy mô lớn như Sông Mây, Hố Nai, Bàu Xéo và Giang Điền đã thúc đẩy việc chuyển đổi hàng nghìn hecta đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đất ở đô thị.

Thực tế thu hồi đất nông nghiệp phục vụ mở rộng đô thị và hạ tầng đã làm thay đổi căn bản tư liệu sản xuất chính của người nông dân. Vấn đề cốt lõi đặt ra là việc mất đất canh tác tạo nên sức ép nặng nề về việc làm, thay đổi cấu trúc việc làm và gây nguy cơ mất an toàn sinh kế đối với các hộ gia đình thuần nông. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện các tác động đa chiều của đô thị hóa đến 5 nguồn lực sinh kế của người dân, đồng thời phân tích thực trạng sử dụng tiền bồi thường và chuyển đổi việc làm sau giải tỏa. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên địa bàn huyện Trảng Bom trong giai đoạn từ tháng 7/2017 đến tháng 2/2018, sử dụng chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2012–2017. Kết quả đề tài mang ý nghĩa quan trọng trong việc lượng hóa mức độ thích ứng sinh kế với chỉ số 70% hộ tiếp cận tốt hơn với hạ tầng sống cơ bản, từ đó cung cấp căn cứ khoa học cho công tác quản trị đất đai và an sinh xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh làm nền tảng lý thuyết chủ đạo. Mô hình này tiếp cận đời sống người dân thông qua mối quan hệ tương tác giữa bối cảnh dễ bị tổn thương, các thể chế chính sách và hệ thống tài sản sinh kế gồm 5 nguồn vốn cơ bản: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động của Robert Chambers và Gordon Conway năm 1992 cùng các nghiên cứu mở rộng của Ian Scoones năm 1998 để làm rõ khả năng thích ứng, chống chịu và phục hồi của nông hộ khi gặp các cú sốc mất đất sản xuất.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: đô thị hóa theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 và Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13; sinh kế và sinh kế bền vững theo chuẩn DFID; tài sản sinh kế biểu diễn qua ngũ giác nguồn vốn; và bối cảnh dễ bị tổn thương gồm các biến động về giá cả, việc làm, suy giảm tài nguyên và môi trường sống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trảng Bom, Chi cục Thống kê huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai trong chuỗi thời gian 2012–2017. Đối với dữ liệu sơ cấp, cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức của William G. Cochran năm 1977 đối với tổng thể vô hạn, đạt quy mô 107 mẫu lý thuyết với mức ý nghĩa 5% và sai số cho phép 9,5%.

Nghiên cứu đã khảo sát thực địa trực tiếp 96 hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi tại 3 địa bàn đại diện có tốc độ đô thị hóa cao nhất huyện: xã Hố Nai 3, xã Bắc Sơn và thị trấn Trảng Bom. Mẫu điều tra được phân tầng thành 3 nhóm cụ thể: nhóm hộ bị thu hồi dưới 30% diện tích đất sản xuất, nhóm thu hồi từ 30% đến 70%, và nhóm thu hồi trên 70% diện tích đất. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh trước - sau thu hồi và phương pháp chuyên gia được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác sự chuyển dịch thu nhập, cơ cấu lao động và đánh giá trực quan sự biến động của ngũ giác nguồn vốn sinh kế trên phần mềm thống kê chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quỹ đất sản xuất nông nghiệp suy giảm nhanh chóng, làm biến đổi sâu sắc nguồn vốn tự nhiên của người dân. Tổng diện tích tự nhiên của huyện Trảng Bom là 32.541,2 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 22.785,1 ha với 17.752,0 ha đất cây lâu năm và 5.033,1 ha đất cây hàng năm. Việc mở rộng 4 khu công nghiệp tập trung với diện tích 1.290,8 ha và cụm công nghiệp vật liệu xây dựng Hố Nai 3 quy mô 53,1 ha đã trực tiếp thu hồi diện tích đất canh tác lớn của các hộ gia đình.

Thứ hai, cơ cấu thu nhập của người dân ghi nhận sự dịch chuyển mạnh mẽ từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Trước khi bị thu hồi đất, nguồn thu từ nông nghiệp chiếm tỷ trọng 36,58% tổng thu nhập bình quân của hộ; tuy nhiên sau khi thu hồi đất, tỷ trọng này sụt giảm nghiêm trọng xuống chỉ còn 10,78%. Ngược lại, nguồn thu từ sản xuất phi nông nghiệp, buôn bán, thương mại và dịch vụ tăng vọt từ 63,42% lên mức 89,22%.

Thứ ba, mô hình phân bổ dòng tiền bồi thường đất đai phản ánh tính thích ứng tài chính chưa thực sự bền vững. Khảo sát chỉ ra có 29,17% tổng số tiền bồi thường được các hộ sử dụng để đầu tư kinh doanh; 28,78% được gửi tiết kiệm ngân hàng lấy lãi; 28,19% dùng cho việc xây mới hoặc sửa chữa nhà ở; và 4,95% dành để mua sắm tiện nghi gia đình.

Thứ tư, nguồn vốn vật chất và điều kiện sống cải thiện nhưng nguồn vốn con người chịu nhiều áp lực. Khoảng 70% hộ dân đánh giá hạ tầng giao thông, điện, nước sạch và tiếp cận y tế, giáo dục tốt hơn sau đô thị hóa. Tuy nhiên, nhóm lao động từ 40 tuổi trở lên với trình độ văn hóa phổ thông gặp khó khăn lớn trong việc tìm kiếm việc làm tại các nhà máy, đối mặt với nguy cơ thiếu việc làm thường xuyên.

Thảo luận kết quả

Sự biến động sinh kế tại Trảng Bom bắt nguồn từ vị trí địa kinh tế chiến lược trong tam giác tăng trưởng thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai. Việc hình thành các khu công nghiệp tập trung đã kéo theo làn sóng nhập cư cơ học lớn, làm mật độ dân số tăng nhanh và gia tăng áp lực lên hệ thống hạ tầng xã hội. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu kinh tế đô thị tại vùng Đông Nam Bộ, khẳng định đô thị hóa vừa mở ra cơ hội kinh doanh dịch vụ nhưng đồng thời triệt tiêu sinh kế truyền thống của nông dân mất đất.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu thu nhập trước - sau thu hồi đất và sơ đồ ngũ giác sinh kế DFID. Sơ đồ cho thấy diện tích nguồn vốn tự nhiên bị thu hẹp đáng kể, trong khi nguồn vốn vật chất với diện tích đất ở 1.960,8 ha và vốn tài chính ngắn hạn tăng lên từ tiền bồi thường. Tuy vậy, do tỷ lệ phân bổ vào đầu tư sinh lời dài hạn chỉ đạt 29,17%, tiền nhàn rỗi gửi ngân hàng 28,78% dễ bị lạm phát bào mòn nếu người dân thiếu kỹ năng quản lý tài chính cá nhân. Bên cạnh đó, ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt tại các lưu vực sông suối và phát sinh tệ nạn xã hội là những hệ lụy môi trường - xã hội nghiêm trọng cần xử lý triệt để.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tổ chức đào tạo nghề gắn liền với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp. Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng ban quản lý các khu công nghiệp triển khai các lớp đào tạo kỹ thuật ngắn hạn. Mục tiêu giai đoạn 2018–2022 đạt tối thiểu 85% lao động trong độ tuổi từ 18 đến 45 thuộc diện mất đất được trang bị chứng chỉ nghề và kết nối việc làm ổn định tại 4 khu công nghiệp trên địa bàn.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và định hướng quản lý dòng tiền bồi thường. Phòng Kinh tế huyện chủ trì phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội cung cấp các gói tư vấn khởi nghiệp, hỗ trợ vay vốn ưu đãi kinh doanh dịch vụ. Đảm bảo duy trì ít nhất 50% tổng số tiền đền bù của hộ dân được đưa vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo dòng tiền bền vững trong vòng 3 năm đầu sau giải phóng mặt bằng.

Thứ ba, tăng cường kiểm soát quy hoạch sử dụng đất và bảo vệ môi trường sinh thái. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trảng Bom cần siết chặt quản lý, chấm dứt tình trạng phân lô bán nền tự phát trên 1.960,8 ha đất ở; đồng thời giám sát 100% các cơ sở sản xuất công nghiệp, đảm bảo xử lý đạt chuẩn trên 95% lượng nước thải và chất thải rắn công nghiệp đến năm 2023.

Thứ tư, đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng thương mại và dịch vụ hỗ trợ sinh kế. Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom ưu tiên ngân sách nâng cấp mạng lưới giao thông liên xã, mở rộng hệ thống chợ và trung tâm thương mại trên 83,2 ha đất thương mại dịch vụ đã quy hoạch, phấn đấu nâng tỷ trọng ngành dịch vụ đạt 45% tổng giá trị sản xuất toàn huyện đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trảng Bom và tỉnh Đồng Nai có thể sử dụng số liệu thực chứng từ 96 hộ khảo sát để hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề và lập quy hoạch sử dụng đất sát thực tế.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn có thể khai thác khung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế DFID và công thức chọn mẫu Cochran làm tài liệu tham khảo phương pháp luận cho các đề tài tương đương.

Nhóm chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và doanh nghiệp bất động sản: Doanh nghiệp tại các khu công nghiệp Hố Nai, Sông Mây, Bàu Xéo, Giang Điền nắm bắt được đặc điểm nguồn nhân lực địa phương để xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo lao động bản địa và thực hiện trách nhiệm xã hội cộng đồng.

Nhóm tổ chức xã hội và đơn vị tư vấn phát triển cộng đồng: Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội ngành nghề ứng dụng các phát hiện về chuyển đổi nghề nghiệp để thiết kế các dự án sinh kế vi mô, nâng cao năng lực quản lý tài chính cho cộng đồng nông dân chịu ảnh hưởng bởi đô thị hóa.

Câu hỏi thường gặp

Quá trình đô thị hóa tại huyện Trảng Bom đã làm biến động cơ cấu đất đai như thế nào? Theo thống kê đến ngày 31/12/2016, đất nông nghiệp giảm còn 25.747,9 ha chiếm 79,12% diện tích tự nhiên, trong khi đất phi nông nghiệp tăng lên 6.793,3 ha chiếm 20,88%. Sự phát triển của 4 khu công nghiệp với 1.290,8 ha và các cụm công nghiệp đã chuyển đổi mạnh mẽ hàng nghìn hecta đất trồng lúa, cây lâu năm sang đất xây dựng hạ tầng.

Thu nhập của người dân thay đổi ra sao sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp? Tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp giảm sâu từ 36,58% trước thu hồi xuống 10,78% sau thu hồi. Ngược lại, nguồn thu từ sản xuất phi nông nghiệp, buôn bán thương mại và dịch vụ tăng từ 63,42% lên 89,22%, phản ánh sự chuyển hướng tất yếu sang khu vực kinh tế dịch vụ đô thị.

Người dân sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai vào những mục đích nào? Kết quả khảo sát 96 hộ cho thấy 29,17% tiền đền bù được đưa vào đầu tư kinh doanh, 28,78% gửi tiết kiệm tại ngân hàng, 28,19% dùng để xây dựng hoặc cải tạo nhà ở kiên cố, và 4,95% chi trả cho việc mua sắm trang thiết bị tiện nghi sinh hoạt gia đình.

Nhóm đối tượng nào gặp nhiều rủi ro sinh kế nhất sau giải tỏa đất nông nghiệp? Nhóm lao động trên 40 tuổi có trình độ học vấn thấp chịu tổn thương nặng nề nhất. Đối tượng này mất đi tư liệu sản xuất nông nghiệp truyền thống nhưng không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng kỹ thuật của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm ổn định.

Luận văn đề xuất giải pháp then chốt nào để bảo đảm sinh kế bền vững? Giải pháp then chốt là đào tạo nghề chuyển đổi việc làm cho 85% lao động mất đất giai đoạn 2018–2022, kết hợp hướng dẫn quản lý tài chính để tối thiểu 50% tiền bồi thường được đầu tư sản xuất kinh doanh sinh lời, đồng thời kiểm soát 100% các điểm phân lô tự phát.

Kết luận

  • Luận văn phân tích toàn diện tác động của đô thị hóa đến sinh kế của người dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thông qua Khung phân tích sinh kế bền vững DFID với chuỗi dữ liệu 2012–2017 và mẫu điều tra 96 hộ thực tế.
  • Làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất với 25.747,9 ha đất nông nghiệp bị thu hẹp dần nhằm nhường chỗ cho 6.793,3 ha đất phi nông nghiệp và 4 khu công nghiệp tập trung quy mô 1.290,8 ha.
  • Xác định sự thay đổi cơ cấu thu nhập với tỷ trọng thu nhập phi nông nghiệp tăng mạnh lên 89,22%, đồng thời chỉ ra hạn chế trong việc sử dụng tiền bồi thường khi có tới 28,78% nguồn tiền gửi tiết kiệm thụ động.
  • Đánh giá khách quan chất lượng cuộc sống khi 70% hộ tiếp cận hạ tầng tốt hơn nhưng cảnh báo tình trạng thất nghiệp ở lao động lớn tuổi và nguy cơ suy thoái môi trường tự nhiên.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình cụ thể đến năm 2025 nhằm hoàn thiện chính sách bồi thường, đào tạo nghề và bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho địa phương.

Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận khoa học cho các nhà quản lý và nhà khoa học trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội tại các vùng ven đô thị hóa nhanh. Hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng hiệu quả các mô hình đánh giá sinh kế vào thực tiễn quản lý đất đai và phát triển cộng đồng bền vững.