CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đô thị và những vấn đề liên quan 1.Khái niệm đô thị Đô thị là một khu vực cư trú của loài người.
Đối với mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ, đô thị có thể có quy mô diện tích nhỏ so với toàn vùng nhưng trình độ phát triển của đô thị mạnh về nhiều mặt và có vai trò quan trọng đối với các vùng xung quanh [11]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [36]. Theo Luật Quy hoạch đô thị Việt Nam (2009), đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông 8 nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành và ngoại thành của thành phố, nội thị và ngoại thị của thị xã hoặc thị trấn [25]. Theo Nghị định số 42 ngày 7 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ về phân loại đô thị [7], một đơn vị được gọi là đô thị khi có các tiêu chuẩn cơ bản bao gồm: Thứ nhất, là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước hoặc của một vùng lãnh thổ nhất định.
Thứ hai, quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên. Thứ ba, mật độ dân số phải phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn, tối thiểu là 2000 người/km2. Thứ tư, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. Thứ năm, hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật phải đạt các yêu cầu: Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị.
Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng lưới hạ tầng, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đô thị. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Thứ sáu, việc xây dựng và phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị đã được duyệt, có các đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của cư dân đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Theo quy định của Chính phủ thì một khu vực muốn trở thành đô thị thì phải đáp ứng được 6 tiêu chuẩn trên. Tuy nhiên, trong thực tế tại Việt Nam do nhiều vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau trong đó đặc biệt là các vùng ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo đang gặp rất nhiều khó khăn nên Chính phủ đã có quy định riêng đối với các đô thị ở những vùng này.
Cụ thể, những đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đảm bảo đạt tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Như vậy, khái niệm đô thị có thể hiểu tổng quát như sau: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện [11]. Các yếu tố tạo thành đô thị Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy 10 định về việc phân loại đô thị của Việt Nam [7] và Thông tư số 34/2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng về quy định chi tiết một số nội dung của nghị định 42/2009/NĐ-CP [5], các yếu tố tạo thành đô thị bao gồm chức năng của đô thị, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, quy mô dân số đô thị và mật độ dân số. Chức năng của đô thị Hầu hết các đô thị đều có chức năng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng lãnh thổ mà đô thị phân bố và đối với cả nước.
Chức năng của đô thị được thể hiện qua chỉ tiêu về vị trí, vai trò của đô thị trong hệ thống đô thị cả nước; tính chất của đô thị và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của đô thị. Trong đó, vị trí, vai trò của đô thị được xác định trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị, quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện. Qua đó, mỗi đô thị có vị trí, vai trò có thể là đô thị chiến lược, đô thị hạt nhân hay vệ tinh của một hệ thống đô thị vùng miền hoặc cả nước. Tính chất của đô thị xác định đô thị có thể là trung tâm tổng hợp của một tỉnh, vùng tỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc của cả nước.
Trong khi đó, các chỉ tiêu kinh tế của đô thị gồm tổng thu ngân sách, tổng chi ngân sách, cân đối thu, chi ngân sách, PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 thu nhập bình quân đầu người so với cả nước và mức tăng trưởng kinh tế trung bình 3 năm gần nhất. Các chỉ tiêu xã hội của đô thị gồm tỷ lệ hộ nghèo được xác định theo quy định hiện hành và tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm bao gồm gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng dân số cơ học không kể lượng dân số tăng do mở rộng địa giới hành chính khu vực nội thị. Các chỉ tiêu kinh tế, xã hội của đô thị được xác định trong phạm vi địa giới hành chính của đô thị. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp Lao động phi nông nghiệp của đô thị là lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, khoa học, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, y tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lý nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị thể hiện tỷ trọng của lực lượng lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động thuộc khu vực nội thị của đô thị. Hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình hình thành và phát triển đô thị. Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội. Trong đó, cơ sở hạ hạ tầng kỹ thuật của đô thị là các công trình hạ tầng đáp ứng các nhu cầu của sản xuất, lưu thông và các hoạt động khác của con người.
Hệ thống công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm: giao thông, cấp điện và chiếu sáng công cộng, hệ thống cấp nước, thoát nước, công viên cây xanh, hệ thống 11 xử lý chất thải, nghĩa trang, thông tin và bưu chính viễn thông. Cơ sở hạ tầng xã hội của đô thị là các công trình hạ tầng đáp ứng các nhu cầu về nơi ở, làm việc, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, học tập, mua sắm, tập luyện văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm nhà ở, trụ sở ngân hàng, bảo hiểm, khách sạn, nhà hàng, siêu thị, thẩm mĩ viện, bệnh viện, trường học, nhà hát, sân vận động và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác. Theo tiêu chuẩn Việt Nam về quy hoạch xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tại các đô thị được đánh giá theo hai tiêu chuẩn là đồng bộ và hoàn chỉnh.
Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là đồng bộ khi tất cả các loại công trình cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với mức quy định của quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị. Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là hoàn chỉnh khi tất cả các công trình cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 90% trở lên so với mức quy định của quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị [4]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 d. Quy mô dân số đô thị Dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự hình thành và phát triển của đô thị.
Trong lĩnh vực quản lý đô thị, dân số là cơ sở để phân loại đô thị, xác định quy mô đất đai, khối lượng nhà ở, công trình công cộng, mạng lưới công trình kỹ thuật cũng như đề xuất các chính sách phát triển. Quy mô dân số đô thị được xác định bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú đã quy đổi ở khu vực nội thị và khu vực ngoại thị. Mật độ dân số Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư trên một đơn vị diện tích đất đai của khu vực nội thị. Chỉ tiêu này được tính bằng dân số trong khu vực nội thị chia cho diện tích đất xây dựng đô thị trong khu vực nội thị không bao gồm các diện tích tự nhiên như núi cao, mặt nước, không gian xanh (vùng sinh thái, khu dự trữ thiên nhiên được xếp hạng về giá trị sinh học.