Chương I của Nghị định số 42/2009/NĐ-CP “Đô thị là trung tâm tông hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc day sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thé nhất định. Trong đó: 10 Đô thị là đầu mối tập trung kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, du lịch, dịch vụ, giao thông và thông tin liên lạc trong tỉnh hoặc vùng trong tỉnh. Nó có tác dụng thúc đây sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh hoặc các lĩnh vực nhất định của tỉnh. Đô thị trực thuộc trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thô liên tỉnh hoặc của cả nước.
Đô thị trực thuộc tỉnh có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh té - xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thé liên tỉnh.4 Vai trò của đô thị Hiện nay, các đô thị Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển va quan lý đất nước, nhất là khi nước ta đang cô gắng phan đấu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Các đô thị ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng và từng tỉnh. Tại các đô thị, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã thúc đây sự PTDT trên quy mô cả nước. Hệ thống đô thị của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây.
Năm 1999, cả nước chỉ có 629 đô thị (mức độ ĐTH 23,7%), đến cuối năm 2018, tổng số đô thi là 819 (mức độ DTH là 38,4%) và đến cuối năm 2018, tổng số khu đô thị là 835 khu (mức độ DTH là 39,2%). Theo định hướng PTĐT đến năm 2025, cả nước có khoảng 1.1 Khái niệm Đô thị hóa, hay Urbanization là quá trình mở rộng đô thi theo ty lệ diện tích, dân số thành thị trên các vùng thuộc khu vực hay quốc gia. Việc tính toán tốc độ DTH cũng được sử dụng 2 yếu tổ trên cùng với thời gian để tính ra được tốc độ DTH của | đô thị. Đô thị hóa là một quá trình tât yêu của các quôc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Đô thị hóa tạo ra tôc độ tăng trưởng, phát triên kinh tê - xã hội và nâng cao mức sông của nhân dân, góp phân làm giau cho dân và củng cô dat nước. Tuy nhiên, nếu chính phủ không có những biện pháp can thiệp thích hợp và kịp 11 thời, quá trình DTH sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và xã hội trong dai hạn và ngăn hạn. Chuyển đỗi DNN trong quá trình DTH và ảnh hưởng đối với đời sống người dân 13.1 Khai niệm ĐNN hay còn được gọi là đất trồng trọt hay đất canh tác là những vùng dat, địa điểm thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cả chăn nuôi và trồng trọt. ĐNN là một trong những tài nguyên chủ chốt của nông nghiệp “Căn cứ theo điều 10 Luật đất đai 2013, Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: e Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa e Đất trồng cây lâu năm e Đất rừng sản xuất e Đất rừng phòng hộ e Dat rung dac dung e Đất nuôi trồng thủy sản e Đất làm muối e ĐNN khác bao gồm đất sử dụng dé xây dung nhà kính và các loại nhà ở khác phục vụ mục đích canh tác, kể cả các hình thức canh tác không trực tiếp trên đất; Xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu, thực nghiệm; Dat vườn ươm cây giống, đất trồng hoa, cây cảnh” Chuyển đổi DNN: Theo “Luật đất đai năm 2013” khái niệm về chuyên đổi mục đích sử dụng đất không được nêu ra mà chỉ nêu ra các trường hợp và hướng dẫn chuyên đôi sử dụng đất nhưng ta có thé hiểu rằng chuyền đổi mục đích sử dung đất là việc chuyển mục đích sử dụng đất ban đầu sang mục đích khác và khi chuyên đổi mục đích sử dụng đất theo tùy trường hợp phải xin phép đăng lí các cơ quan nhà nước có thâm quyền.
Vậy chuyên đổi ĐNN chính là chuyển đổi mục đích sử dụng DNN sang mục đích khác có thé là đất đô thi, đất công nghiệp hoặc đất ở,. Trong quá trình DTH, đất đô thị luôn là một trong những loại đất có gia tri cao, chính vi thé DTH luôn diễn ra qua trinh chuyén đôi mục dich sử dụng đất, 12 chuyên DNN sang dat đô thị, làm thay đổi giá đất trên địa bàn. Ngoài ra DNN còn được chuyền sang các loại đất dịch vụ, công nghiệp dé phục vu cho các thành thi lân cận khiến cho DNN ngày càng giảm sút.2 Ảnh hưởng của việc chuyển đổi ĐNN trong quá trình DTH Đất nông nghiệp là loại đất có giá trị cao về mặt quỹ dat, là nguyên liệu sản xuất từ lâu đời và đặc biệt là ở Việt Nam, một nước nông nghiệp - 90% dân số sống ở nông thôn. Đối với quá trình CNH, việc chuyên đổi DNN dé PTĐT là bước đi quan trọng, là đầu tàu không chỉ thu hút sự phát triển kinh tế nhanh chóng mà còn có ảnh hưởng nhất định đến đất đai như: a) Giá trị đất đai ngày càng tăng.
Nhu cầu về đất đai để PTĐT đang khiến giá DNN tăng cao. Các nhà đầu tư phải trả giá cao dé có đất xây dựng và phát triển. ĐNN bị chuyền đổi có thé ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp của người nông dân, nhưng họ cũng yên tâm khi giá trị đất của họ được tăng lên. Mặc dù các địa điểm sản xuất đã bị mat và bị phá hủy, nhưng sản lượng lương thực của đất nước vẫn luôn tăng và sản lượng được cải thiện nhờ công nghệ mới.
Đây là trường hợp sản xuất lúa ở Trung Quốc hay Việt Nam nhờ mức độ phát triển của lúa lai. Tại Hoa Kỳ, sản lượng lương thực đang tăng 2% mỗi năm và lớn hơn mức cần thiệt, mặc dù các vung dat ngập nước tiệp tục giảm. b) Thi trường thương mại ngày càng tăng. Các trang trại giáp với khu vực thành thị có khả năng nhanh chóng thu được sản lượng.
Các thành phó sẽ trở thành “Thị trường tiêu thụ nông sản”, mở rộng thị trường tiêu thụ, giúp nông dân chuyển sang sản xuất các loại nông sản điền hình như trồng hoa, quả, rau. bằng cách thay đôi chê độ thương mại của các nơi sản xuât đâu vào của nông nghiệp. c) Thị trường lao động tăng. Các trang trai nằm gần trung tâm lao động có thé dao tạo lao động dé chuyên đổi cơ cau nông nghiệp thích ứng với môi trường đó.
Người dân lao động có thể chuyên sang sản xuất các giống nông sản đặc sản dé đáp ứng nguồn cau khắt khe của các khu công nghiệp và khu đô thị mới. Nhưng, người nông dan có thé bị cám dỗ dé rời bỏ nghề này vì công việc ít vat vả hơn và TNBQ cao hơn ở khu vực thành thi. d) Vấn đề các cụm công nghiệp lân cận: Giao thông và vận tải ở nông thôn và thành thị đối lập nhau. Cư dân của thị trấn ở các khu vực lân cận sử dụng đường khu vực nông thôn dé đi lại trong khi người dân khu vực nông thôn sử dụng đường 13 này dé sản xuất, sinh hoạt, làm việc và thu hoạch.
Người nông dân phải gánh chịu những hậu quả tương tự như khói bụi, tiếng ồn,. gây hại cho sức khỏe. Ảnh hướng của quá trình DTH doi với kinh tế-xã hội và đời sống của người dân e Ảnh hưởng tích cực: Tăng TNBQ đầu người của người dan: Quá trình DTH đã tác động mạnh mẽ đến nên kinh tế, giúp nên kinh tế tang trưởng vững mạnh. Từ đó làm tăng TNBQ đầu người, việc tăng TNBQ chính là nền móng cơ sở giúp nâng cao chất lượng đời sông của người dân.
Chất lượng giáo dục được cải thiện: Với việc phát triển cơ sở vật chất tốt ở đô thị, nhiều trường học được xây dựng với chất lượng đào tạo tốt. Đi cùng với đó nhu cầu về lực lượng lao động có tay nghề cao lại càng nhiều khiến cho giáo dục ngày càng phát triển. Tăng tuổi thọ của người dân: Nhờ có chất lượng cuộc sống được phát triển, TNBQ cũng tăng lên. Người dân càng có cơ hội tiếp xúc với các bệnh viện cũng như các cơ sở ý tế trong việc điều trị.
Ngoài ra các hình thức giải trí, rèn luyện thé dục thé thao cũng được đô thị phát triển giúp nâng cao đời sống tinh thần của người dân. e Ảnh hưởng tiêu cực Tình trạng di dân từ nông thôn đến thành thị: Điều này khiến cho tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên ở đô thị bị đảo lộn, gây ra sự mất cân đối giữa nông thôn và đô thị gây ra mat cân bằng về dịch vụ công cộng, giáo dục, phúc lợi xã hội và TNBQ của người dân giữa thành thị và nông thôn. Chênh lệch trong chuyên dịch cơ cấu kinh tế: Do quá trình DTH diễn ra nhanh chóng dẫn đến ngành nông nghiệp bị bỏ ngỏ. Các khu vực nông thôn bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm do chất thải nông nghiệp và công nghiệp không được xử lý, nguồn lao động ở nông thôn bị giảm sút vì đi dân ở đô thị.
Ngoài ra sự phân hóa xã hội giữa thành thị và nông thôn cũng ngày một leo thang, việc đối xử giữa người ở nông thôn hay nguồn lao động đến từ nông thôn cũng ngày càng được phân hóa gây ra bat bình dang trong xã hội. THỰC TRANG DTH ANH HUONG DEN CHUYEN DOI DNN VÀ ĐỜI SONG CUA NGƯỜI DAN TAI DIA BAN TINH YEN BAI 2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên và xã hội tại thành phố Yên Bái 2.1 Vị trí địa lý Thành phó Yên Bái là đô thị miền núi thuộc vùng Tây Bắc, nằm ở đầu vào khu Tây Bắc của tỉnh Yên Bái và của cả nước, là trung tâm hành chính chính trị, kinh tế - xã hội của tinh.