Luận văn về chính sách việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội

Chuyên đề nghiên cứu Chính sách việc làm cho nông dân thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học quản lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

102
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách việc làm cho nông dân thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội

Chính sách việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế và đô thị hóa. Việc thu hồi đất nông nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của nông dân mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của khu vực nông thôn. Chính sách này nhằm đảm bảo quyền lợi cho nông dân, tạo điều kiện cho họ có việc làm ổn định và nâng cao thu nhập.

1.1. Tình hình thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội

Tình hình thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt là ở các huyện ngoại thành như Hoài Đức. Sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị hóa đã tạo ra nhiều thách thức cho nông dân.

1.2. Vai trò của chính sách việc làm trong phát triển nông thôn

Chính sách việc làm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nông dân sau khi thu hồi đất. Nó không chỉ giúp họ tìm kiếm việc làm mới mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

II. Vấn đề và thách thức trong chính sách việc làm cho nông dân

Mặc dù đã có nhiều chính sách được ban hành, nhưng việc thực hiện chính sách việc làm cho nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn. Các vấn đề như thiếu thông tin, kỹ năng nghề nghiệp không phù hợp và sự chênh lệch trong thu nhập vẫn tồn tại.

2.1. Thiếu thông tin và kỹ năng nghề nghiệp

Nhiều nông dân không được tiếp cận thông tin về các cơ hội việc làm mới. Hơn nữa, kỹ năng nghề nghiệp của họ thường không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hiện đại.

2.2. Sự chênh lệch trong thu nhập

Sau khi thu hồi đất, nhiều nông dân phải đối mặt với tình trạng thu nhập giảm sút. Điều này dẫn đến sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, gây ra nhiều hệ lụy xã hội.

III. Phương pháp và giải pháp chính cho việc làm nông dân

Để nâng cao hiệu quả của chính sách việc làm cho nông dân, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Các giải pháp này bao gồm đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính và phát triển các mô hình kinh tế mới.

3.1. Đào tạo nghề cho nông dân

Đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng giúp nông dân nâng cao kỹ năng và tìm kiếm việc làm mới. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.

3.2. Hỗ trợ tài chính cho nông dân

Hỗ trợ tài chính giúp nông dân có nguồn lực để khởi nghiệp hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Các chính sách tín dụng ưu đãi cần được triển khai để tạo điều kiện cho nông dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chính sách việc làm

Nghiên cứu về chính sách việc làm cho nông dân thu hồi đất nông nghiệp đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục cải thiện và điều chỉnh các chính sách để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nông dân.

4.1. Kết quả thực hiện chính sách tại huyện Hoài Đức

Tại huyện Hoài Đức, nhiều nông dân đã tìm được việc làm mới nhờ vào các chính sách hỗ trợ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết.

4.2. Bài học từ các mô hình thành công

Các mô hình thành công trong việc tạo việc làm cho nông dân cần được nhân rộng. Những bài học từ các địa phương khác có thể áp dụng để cải thiện tình hình tại Hà Nội.

V. Kết luận và tương lai của chính sách việc làm cho nông dân

Chính sách việc làm cho nông dân thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội cần được tiếp tục hoàn thiện. Tương lai của chính sách này phụ thuộc vào sự đồng bộ trong các giải pháp và sự tham gia của các bên liên quan.

5.1. Định hướng phát triển chính sách trong tương lai

Cần có những định hướng rõ ràng cho chính sách việc làm trong tương lai, nhằm đảm bảo quyền lợi cho nông dân và phát triển bền vững.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện chính sách

Cộng đồng cần tham gia tích cực vào việc thực hiện chính sách việc làm, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hiệu quả cao hơn trong việc hỗ trợ nông dân.

03/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cở sở lý luận về việc làm và chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp; Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức; Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tạo việc làm chủ yếu cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức. 13 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chính sách tạo việc làm 1.

Lý luận về việc làm * Khái niệm việc làm Ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới việc làm luôn là một vấn đề quan trọng, là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Ngày nay hệ thống lý thuyết về việc làm đƣợc đề cập trên nhiều tài liệu, sách báo trong nƣớc và quốc tế và đƣợc tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tƣ liệu sản xuất, nhằm biến đổi đối tƣợng lao động theo mục đích của con ngƣời. Trong Đại Từ điển kinh tế thị trƣờng của Trung Quốc do Viện nghiên cứu và phổ biến trị thức bách khoa Hà Nội biên dịch và xuất bản năm 1998 thì việc làm đƣợc hiểu là “hành vi của nhân viên có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất để được thù lao hoặc thu nhập”.

Việc làm, theo từ điển Tiếng Việt: “1. Là công việc, nghề nghiệp thường ngày để sinh sống; 2. Là điều kiện để thực hiện cụ thể với lời nói” [44;1064] Nói đến nguồn nhân lực xã hội là nói đến sự liên hệ mật thiết tới vấn đề việc làm. Việc làm và việc xác định số lƣợng ngƣời có việc làm là vấn đề quan trọng đối với mọi quốc gia.

Nó giúp cho việc quy hoạch lao động, quy hoạch phát triển kinh tế thị trƣờng dễ dàng hơn. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đƣa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”. 14 Theo Điều 9 chƣơng II Bộ Luật Lao động của nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012) xác định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm" [18]. Theo Luật Việc làm (2013) thì "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm" [19].

Theo khái niệm này một hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: + Hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động. Điều này chỉ rõ tính hữu ích của việc làm. + Hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.

Khác với những hoạt động mà không đƣợc coi là việc làm nhƣ: mại dâm, ma túy… Tuy những hoạt động này cũng tốn sức lực tạo ra lợi nhuận, thu nhập nhƣng bị pháp luật cấm nên không đƣợc coi là việc làm. Các khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhƣng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản: Thứ nhất, hoạt động nội trợ không đƣợc coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ ngƣời có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì đƣợc cho phép và đƣợc coi là việc làm, nhƣng ở quốc gia khác thì không đƣợc coi là việc làm, ví dụ mại dâm ở Việt Nam bị cấm, nhƣng ở nhiều quốc gia phát triển nhƣ Nhật Bản lại đƣợc coi là một nghề; đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhƣng ở Thái Lan và Mỹ lại đƣợc coi là một nghề, thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thƣợng lƣu.

Để làm rõ bản chất của việc làm ngƣời ta còn phân chia việc làm ra thành nhiều loại khác nhau. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà ngƣời thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà ngƣời thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau 15 công việc chính.

Ngoài ra, theo thời gian làm việc còn chia việc làm thành: việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm. Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 08 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 08 tiếng mỗi ngày và 05 ngày trong tuần; Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của nhà nƣớc 08 tiếng mỗi ngày và 05 ngày mỗi tuần. Thời gian làm việc có thể dao động từ 0,5 đến 05 tiếng mỗi ngày và không liên tục; Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thƣờng xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. Nhƣ vậy, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: “Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận”.

* Khái niệm tạo việc làm Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động. Cơ chế tạo việc làm: cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của ngƣời lao động, Nhà nƣớc và ngƣời sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn đƣợc làm việc của ngƣời lao động gặp nhau trên thị trƣờng đúng lúc, đúng chỗ. - Về phía người lao động: Muốn tìm đƣợc việc làm phù hợp, có thu nhập cao, đƣơng nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tƣ cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định. - Về phía nhà nước: Tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếp đến ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, tạo môi trƣờng pháp lý kết hợp sức lao động với tƣ liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho ngƣời lao động.

16 - Về phía người sử dụng lao động: Cần có thông tin về thị trƣờng đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc cho ngƣời lao động. Do đó, ngƣời sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xƣởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm. Hơn nữa, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còn cần có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của Nhà nƣớc trong lĩnh vực lao động, việc làm. Đồng thời đề ra các quy định phù hợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức và nâng cao sự thoả mãn của ngƣời lao động, khơi dậy động lực lao động ở mỗi ngƣời.

Ở khu vực nông thôn về cơ bản không có ngƣời thất nghiệp hoàn toàn nhƣng vấn đề đáng quan tâm là tình trạng nhàn rỗi (thiếu việc làm) nhƣ đã trình bày ở phần trên. Sở dĩ không có thất nghiệp hoàn toàn vì mỗi lao động đều có đất để làm tƣ liệu sản xuất của mình, song trong điều kiện đất nông nghiệp hạn hẹp lại đang có xu hƣớng thu hẹp dần do tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thi hóa, trong khi đó lao động nông thôn bổ sung hàng năm là 1,1 - 1,2 triệu ngƣời, cộng với số lao động từ năm trƣớc chuyển sang có nhu cầu giải quyết việc làm, do đó xảy ra tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn là điều không thể tránh khỏi. Tóm lại, từ những đặc điểm lao động việc làm khu vực nông thôn nƣớc ta cho thấy, thực trạng kinh tế nông nghiệp và lao động nông thôn chƣa phát huy hiệu quả cao. Chính vì vậy, để thực hiện thành công CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn thì tạo việc làm sẽ là giải pháp cơ bản để tăng thời gian làm việc, giảm thời gian nhàn, giảm việc làm thuần nông khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm, chủ động tạo ra việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân.

Chính sách tạo việc làm cho nông dân * Khái niệm chính sách Có nhiều quan niệm, tiếp cận khái niệm chính sách: 17 Theo James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec 1983): “chính sách là quá trình hàng động có mục tiêu mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”.Vũ Cao Đàm: “chính sách là tập hợp biện pháp mà chủ thể quyền lực đưa ra để định hướng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực [8; 6]. Nhìn chung chính sách là công cụ của chính trị. Tuy nhiên không phải chính sách nào cũng bị chi phối bởi quyền lực chính trị và là công cụ phục vụ trực tiếp cho mục tiêu chính trị.

Trong nhiều trƣờng hợp chính sách mang tính độc lập với chính trị. Tóm lại, chính sách là tập hợp một hoặc một số biện pháp mà chủ thể quản lý đưa ra nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhóm xã hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội hay đạt mục tiêu nhất định mà chủ để quản lý đang hướng tới. * Khái niệm chính sách tạo việc làm Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia. Chính sách việc làm đúng đắn sẽ góp phần thúc đẩy thị trƣờng lao động phát triển, là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trƣờng, đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn về chính sách việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội" của tác giả Nguyễn Trọng Bào, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Chiều, tập trung vào việc phân tích và đề xuất các chính sách việc làm nhằm hỗ trợ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Luận văn không chỉ nêu rõ những khó khăn mà nông dân gặp phải trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp, mà còn đưa ra các giải pháp khả thi để cải thiện tình hình việc làm cho nhóm đối tượng này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về chính sách và thực tiễn việc làm, từ đó có thể áp dụng vào các nghiên cứu hoặc công việc liên quan.

Để mở rộng thêm kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn tại vùng thu hồi đất Hà Nội, nơi đề cập đến chính sách việc làm cho một nhóm đối tượng khác trong cùng bối cảnh. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ cũng sẽ cung cấp thêm góc nhìn về quản lý và phát triển nông nghiệp. Cuối cùng, Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.