Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ nông nghiệp của tác giả Trần Ngọc Hưng với đề tài "Nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân vô cơ đa lượng đối với cây lúa trên đất phù sa sông Thái Bình và lúa, ngô trên đất xám bạc màu" được thực hiện tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, thuộc chuyên ngành Khoa học đất (mã số: 62 62 01 03). Luận án được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Bùi Đình Dinh và TS Cao Kỳ Sơn, gắn liền với các nội dung nghiên cứu thuộc đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân vô cơ đa lượng đối với lúa, ngô, cà phê làm cơ sở cân đối cung cầu phân bón ở Việt Nam" do PGS.TS Nguyễn Văn Bộ làm chủ nhiệm.
Về tính cấp thiết, lúa và ngô là hai cây lương thực quan trọng tại Việt Nam với diện tích gieo trồng năm 2015 ước tính đạt 7,83 triệu ha lúa (sản lượng 44,97 triệu tấn) và 1,18 triệu ha ngô (sản lượng 5,20 triệu tấn). Hàng năm, ngành trồng trọt sử dụng trên 10 triệu tấn phân bón các loại, trong đó cây lúa tiêu thụ khoảng 7 triệu tấn (chiếm 65%) và cây ngô tiêu thụ gần 1 triệu tấn (chiếm 9%). Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng phân bón trong sản xuất thực tế còn thấp do tập quán bón phân của nông dân và các khuyến cáo trước đây chủ yếu tập trung vào hiệu lực trực tiếp trong một vụ ngắn hạn nhằm đạt năng suất cao mà chưa tính toán đầy đủ hiệu lực tồn dư và hiệu lực cộng dồn của các chất dinh dưỡng đa lượng, đặc biệt là lân ($P$) và kali ($K$). Hậu quả dẫn tới tình trạng bón thừa phân khoáng, gia tăng chi phí sản xuất, gây tích lũy dinh dưỡng cục bộ trong đất và tiềm ẩn nguy cơ phú dưỡng nguồn nước do quá trình rửa trôi, xói mòn và bốc thoát hơi.
Khoảng trống nghiên cứu mà đề tài giải quyết là xác lập cơ sở khoa học định lượng về sự chuyển hóa dinh dưỡng, đánh giá đồng thời hiệu lực trực tiếp của đạm ($N$), lân ($P$), kali ($K$) cũng như hiệu lực tồn dư và cộng dồn của lân và kali qua nhiều vụ liên tiếp trên hai nhóm đất đại diện: đất phù sa sông Thái Bình và đất xám bạc màu miền Bắc.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Xác định được cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón đạm, lân và kali cho lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình trong cơ cấu lúa xuân - lúa mùa và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu ở Bắc Giang trong cơ cấu lúa xuân - lúa mùa - ngô đông.
- Mục tiêu cụ thể: Xác định được hiệu lực trực tiếp của các nguyên tố đạm, lân, kali, hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân lân và kali làm cơ sở xác định lượng bón phân vô cơ đa lượng thích hợp cho cây lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình tại Hải Dương và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu ở Bắc Giang.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Phân vô cơ đa lượng ($N, P, K$), cây lúa thuần và cây ngô lai.
- Phạm vi không gian: Đất phù sa không được bồi chua thuộc hệ thống phù sa sông Thái Bình tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và đất xám bạc màu phát triển trên phù sa cổ tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi thời gian: Các thí nghiệm đồng ruộng và số liệu điều tra nông hộ được thu thập, triển khai trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến quản lý dinh dưỡng cây trồng, đặc điểm đất đai và hiệu lực phân khoáng đa lượng:
Các nghiên cứu quốc tế
- Chương trình MEGA tại 179 điểm thuộc 8 vùng sản xuất lúa lớn ở châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam) giai đoạn 1997–1999 do Dobermann và cộng sự (2001) tổng kết, cho thấy hiệu quả nông học của đạm ($AE_N$) theo phương pháp quản lý dinh dưỡng theo vùng đặc thù (SSNM) đạt trung bình 14,8 kg thóc/kg $N$, hiệu quả thu hồi ($RE_N$) đạt 0,40, cao hơn rõ rệt so với tập quán bón phân của nông dân ($AE_N$ đạt 11,5 kg thóc/kg $N$; $RE_N$ đạt 0,31).
- Nghiên cứu của Cabangon và cộng sự (2004) ghi nhận khi quản lý nước và dịch hại tốt, mức bón 165 kg $N$/ha cho hiệu suất gia tăng năng suất 19,7 kg thóc/kg $N$.
- Nghiên cứu của Buri Mohammed Moro và cộng sự (2008) tại Ghana trên đất nghèo lân và kali ($P_{dt} = 0,47\text{ mg } P/\text{kg}$, $K_{tđ} = 0,09\text{ cmol/kg}$) chỉ ra mức bón 90 kg $N$/ha trên nền $P_{90} + K_{90}$ cho $AE_N$ đạt 60,9 kg thóc/kg $N$.
- Yaduvanshi (2003) tại Ấn Độ ghi nhận mức bón 120 kg $N$/ha trên đất mặn giúp tăng 1,8 tấn thóc/ha ($15\text{ kg thóc/kg } N$). Ngược lại, Bi và cộng sự (2014) chỉ ra rằng khi lân và kali bị thiếu hụt, hiệu lực của đạm bị giới hạn nghiêm trọng, mức bón 90 kg $N$/ha chỉ đạt hiệu suất 3,1 kg thóc/kg $N$.
- Về chế độ bón phân khoáng đa lượng, các nghiên cứu của Eddie R. Funderburg và cộng sự (2014) tại bang Louisiana (Hoa Kỳ), Ji-yun Jin và cộng sự (2002) tại 7 tỉnh trọng điểm của Trung Quốc, Mian Abdul Majid (2014) tại Pakistan và Jayanta Kumar Basak (2011) tại Bangladesh đều khẳng định lượng bón $NPK$ biến động phụ thuộc mật thiết vào loại đất, giống cây trồng và chế độ canh tác.
Các nghiên cứu trong nước
- Các công trình kinh điển của Nguyễn Vy và Trần Khải (1978), Nguyễn Tử Siêm và Trần Khải (1986), Vũ Hữu Yêm (1995), Trần Thúc Sơn (1996, 1999) đã xác lập đặc điểm độ phì nhiêu, hàm lượng và dạng tồn tại của đạm, lân, kali trên các nhóm đất chính tại miền Bắc.
- Về khả năng hấp thu lân, Nguyễn Tử Siêm và Trần Khải (1986) chứng minh đất phù sa sông Hồng có khả năng hấp thu lân cao ($150 - 200\text{ mg } P/\text{kg}$ đất), trong khi đất xám bạc màu có khả năng hấp thu lân rất thấp ($15 - 20\text{ mg } P/\text{kg}$ đất).
- Về phân loại và động thái kali trong đất, Nguyễn Văn Chiến (2004, 2008) chỉ ra đất xám bạc màu tại Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội có hàm lượng kali tổng số ($0,61% K_2O$) và kali dễ tiêu ($2,21 - 5,42\text{ mg } K_2O/100\text{g}$ đất) ở mức rất nghèo.
- Các nghiên cứu của Bùi Huy Hiền và cộng sự (2003), Cao Kỳ Sơn (2013), Ngô Xuân Hiền (2012, 2014), Đinh Văn Phóng (2016), Lê Quý Tường và cộng sự (2001) đã đánh giá hiệu lực nông học của đạm và phân khoáng trên các hệ thống canh tác lúa, ngô tại vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Vị trí của luận án được định vị ở việc chuyển tiếp từ các nghiên cứu ngắn hạn đơn lẻ sang nghiên cứu thực nghiệm dài hạn (2011–2015), giải quyết trọn vẹn mối quan hệ giữa hiệu lực trực tiếp, hiệu lực tồn dư và hiệu lực cộng dồn của phân bón khoáng đa lượng trên cả hai vùng đất chuyên canh lúa và luân canh lúa - ngô.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên lý thuyết cân bằng dinh dưỡng khoáng cây trồng ($Soil\text{ - }Plant\text{ - }Nutrient\text{ }Interactions$), chu trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng đa lượng trong đất ($N, P, K$) và hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu lực phân bón của Dobermann (2001):
- Nhu cầu dinh dưỡng cây trồng: Để hình thành 1 tấn thóc (kèm rơm rạ), cây lúa lấy đi trung bình $22,2\text{ kg } N$; $7,1\text{ kg } P_2O_5$; $31,6\text{ kg } K_2O$; $3,94\text{ kg } CaO$; $4,0\text{ kg } MgO$; $0,9\text{ kg } S$; $51,7\text{ kg } Si$. Đối với giống lúa mới, lượng hút tương ứng là $15 - 20\text{ kg } N$ (trung bình $17,5\text{ kg}$), $2,5 - 3,5\text{ kg } P$ và $14 - 20\text{ kg } K_2O$. Đối với cây ngô, để đạt năng suất 10 tấn hạt/ha, cây lấy đi $269\text{ kg } N$; $111\text{ kg } P_2O_5$; $269\text{ kg } K_2O$.
- Phân loại dạng tồn tại của chất dinh dưỡng: Đạm trong đất tồn tại ở dạng hữu cơ, $NH_4^+$ cố định và dạng vô cơ hòa tan ($NH_4^+$, $NO_3^-$). Lân tồn tại dưới dạng $P$ hữu cơ, $P$ khoáng và $P$ dung dịch, trong đó đất chua hình thành chủ yếu liên kết $Fe\text{-}P$ ($strengit$ ở môi trường oxy hóa và $vivianit$ ở môi trường khử). Kali được phân chia theo Nelson (1975) thành kali hữu hiệu trực tiếp ($0,1 - 2%$), kali hữu hiệu chậm ($1 - 10%$) và kali không hữu hiệu ($90 - 98%$); hoặc theo McLean (1978) thành $K$ khoáng ($5000 - 25000\text{ ppm}$), $K$ không trao đổi ($50 - 750\text{ ppm}$), $K$ trao đổi ($40 - 600\text{ ppm}$) và $K$ dung dịch ($1 - 10\text{ ppm}$).
- Định nghĩa hiệu lực phân bón:
- Hiệu lực trực tiếp: Mức độ gia tăng năng suất và hiệu suất sử dụng dinh dưỡng tại vụ bón phân.
- Hiệu lực tồn dư: Ảnh hưởng của lượng phân bón từ vụ trước đến sự gia tăng năng suất của cây trồng ở các vụ tiếp theo không được bón bổ sung dưỡng chất đó.
- Hiệu lực cộng dồn: Tổng hiệu quả của lượng phân bón tích lũy qua nhiều vụ liên tiếp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp điều tra định lượng xã hội học nông thôn và phương pháp thực nghiệm đồng ruộng:
- Phương pháp điều tra: Thu thập số liệu thống kê kinh tế - xã hội, tổ chức điều tra bảng hỏi nông hộ tại các huyện trọng điểm của tỉnh Hải Dương (Gia Lộc, Cẩm Giàng, Bình Giang, Ninh Giang, Thanh Miện) và Bắc Giang (Hiệp Hòa, Tân Yên, Lục Nam) về tập quán sử dụng phân bón, cơ cấu mùa vụ và năng suất cây trồng.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đồng ruộng nhiều vụ liên tiếp từ năm 2011 đến năm 2015 trên 2 nhóm đất:
- Hệ thống 1 (Hải Dương): Đất phù sa sông Thái Bình không được bồi chua ($Pc$), luân canh lúa xuân - lúa mùa (giống lúa thuần).
- Hệ thống 2 (Bắc Giang): Đất xám bạc màu trên phù sa cổ ($XBM$), luân canh lúa xuân - lúa mùa - ngô đông (giống lúa thuần và ngô lai).
- Phương pháp phân tích nông hóa: Phân tích đất và cây trồng theo Tiêu chuẩn Việt Nam ($TCVN$): $pH_{KCl}$ (tỷ lệ 1:2,5); $OM$ (Walkley-Black); $N$ tổng số (Kjeldahl); $P$ tổng số và $P$ dễ tiêu (phương pháp Oniani hoặc Bray 2); $K$ tổng số và $K$ dễ tiêu/trao đổi (phương pháp quang kế ngọn lửa); $CEC$ (phương pháp Schollenberger); thành phần cơ giới đất.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sinh học, phân tích phương sai ($ANOVA$) và tương quan hồi quy trên các phần mềm chuyên dụng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tập trung phân tích tổng quan bối cảnh tự nhiên, kinh tế - kỹ thuật, đặc điểm khí hậu, tính chất thổ nhưỡng của vùng nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận về phân bón:
| Chỉ tiêu nông hóa |
Đất phù sa sông Thái Bình (Gia Lộc, Hải Dương) |
Đất xám bạc màu (Hiệp Hòa, Bắc Giang) |
| Loại đất |
Phù sa không được bồi, chua ($Dystric\text{ }Fluvisols$ - $Pc$) |
Đất xám bạc màu trên phù sa cổ |
| Thành phần cơ giới |
Thịt nhẹ đến thịt trung bình/nặng |
Cát pha đến thịt nhẹ (cát $73,7%$, sét $6,1%$) |
| $pH_{KCl}$ |
$4,40 - 6,16$ (trung bình $4,80$) |
$4,00 - 6,90$ (trung bình $5,30$) |
| Chất hữu cơ ($OM$) |
$1,03 - 5,50%$ (trung bình $2,00%$) |
$0,80 - 1,10%$ (trung bình $0,95%$) |
| Đạm tổng số ($N_{ts}$) |
$0,09 - 0,22%$ (trung bình $0,14%$) |
$0,06 - 0,08%$ (trung bình $0,07%$) |
| Lân tổng số ($P_{ts}$) |
$0,03 - 0,32% P_2O_5$ (trung bình $0,118%$) |
$0,02 - 0,14% P_2O_5$ (trung bình $0,08%$) |
| Lân dễ tiêu ($P_{dt}$) |
$2,57 - 48,71\text{ mg } P_2O_5/100\text{g}$ (TB $12,79$) |
$0,10 - 9,40\text{ mg } P_2O_5/100\text{g}$ (TB $4,70$) |
| Kali tổng số ($K_{ts}$) |
$0,62 - 2,70% K_2O$ (trung bình $1,84%$) |
$0,03 - 0,24% K_2O$ (trung bình $0,14%$) |
| Kali dễ tiêu ($K_{dt}$) |
$2,41 - 10,85\text{ mg } K_2O/100\text{g}$ (TB $6,52$) |
$2,80 - 5,00\text{ mg } K_2O/100\text{g}$ (TB $3,90$) |
| Dung tích hấp thu ($CEC$) |
Trung bình |
$5,30 - 9,80\text{ me}/100\text{g}$ (trung bình $6,00$) |
| Khả năng hấp thu lân |
Cao ($150 - 200\text{ mg } P/\text{kg}$ đất) |
Rất thấp ($15 - 20\text{ mg } P/\text{kg}$ đất) |
Về diễn biến khí hậu giai đoạn 2011–2015:
- Tại Gia Lộc (Hải Dương): Độ ẩm không khí trung bình tăng 0,6% (mùa khô tháng 10–11 tăng 1,2–8,0%); nhiệt độ không khí trung bình tăng 0,9°C; lượng mưa trung bình năm giai đoạn 2011–2014 tăng 242,1 mm so với giai đoạn 2000–2010 (tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 94,3 mm).
- Tại Hiệp Hòa (Bắc Giang): Độ ẩm không khí trung bình tăng 1,5%; nhiệt độ trung bình năm tăng 2,4°C (các tháng tăng từ 1,7 đến 4,0°C); tổng lượng mưa trung bình năm giảm nhẹ 2,7 mm/năm, gây hiện tượng thiếu nước vào cuối vụ xuân và các tháng vụ đông (tháng 10–12).
Về tình hình sản xuất lúa, ngô giai đoạn 2010–2014:
- Tỉnh Hải Dương: Diện tích lúa duy trì $125,0 - 127,5$ ngàn ha, năng suất dao động $58,8 - 61,9$ tạ/ha, sản lượng đạt $739,8 - 782,3$ ngàn tấn. Cơ cấu giống gồm Bắc Thơm số 7 ($22%$), Q5 ($15,4%$), KD ($12,5%$), Xi ($5,4%$).
- Tỉnh Bắc Giang: Diện tích lúa đạt $111,6 - 112,8$ ngàn ha, năng suất đạt $52,7 - 56,1$ tạ/ha, sản lượng $588,6 - 629,1$ ngàn tấn. Diện tích ngô đạt $8,6 - 12,3$ ngàn ha, năng suất đạt $36,5 - 39,1$ tạ/ha, sản lượng đạt $33,6 - 44,9$ ngàn tấn.
DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG LÚA TỈNH HẢI DƯƠNG VÀ BẮC GIANG (2010 - 2014)
Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu thực nghiệm:
- Địa điểm: Cánh đồng thực nghiệm tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (đại diện đất phù sa sông Thái Bình) và huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (đại diện đất xám bạc màu).
- Vật liệu: Các loại phân bón vô cơ đơn gồm đạm urê ($46% N$), supe lân ($16% P_2O_5$), kali clorua ($60% K_2O$). Giống lúa thuần và giống ngô lai sử dụng phổ biến tại địa phương.
- Nội dung thực hiện:
- Đánh giá điều kiện khí hậu, đất đai và thực trạng canh tác, tập quán bón phân qua điều tra nông hộ.
- Nghiên cứu hiệu lực trực tiếp của $N, P, K$, hiệu lực tồn dư và cộng dồn của $P, K$ đối với lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình (cơ cấu lúa xuân - lúa mùa).
- Nghiên cứu hiệu lực trực tiếp của $N, P, K$, hiệu lực tồn dư và cộng dồn của $P, K$ đối với lúa thuần và ngô lai trên đất xám bạc màu (cơ cấu lúa xuân - lúa mùa - ngô đông).
- Xác định lượng bón phân khoáng đa lượng tối ưu cho từng loại đất và từng cây trồng.
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đồng ruộng gồm các công thức khuyết tật dinh dưỡng ($Ô$ khuyết $N$, Ô khuyết $P$, Ô khuyết $K$) đối chứng với công thức bón đủ $NPK$ và các mức liều lượng $P, K$ ngắt quãng theo vụ nhằm xác định hiệu lực tồn dư và cộng dồn.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được trong suốt giai đoạn nghiên cứu:
- Thực trạng bón phân của nông hộ: Nông dân vùng nghiên cứu có xu hướng bón đạm và lân vượt quá nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng, trong khi bón thiếu kali trên đất xám bạc màu. Thời kỳ bón phân chưa thực sự cân đối giữa bón lót và bón thúc.
- Động thái dinh dưỡng đất:
- Trên đất phù sa sông Thái Bình, hàm lượng lân dễ tiêu ($P_{dt}$) duy trì ở mức trung bình khá nhưng lượng kali dễ tiêu ($K_{dt}$) giảm nhanh nếu không bón bổ sung kali qua các vụ.
- Trên đất xám bạc màu, do khả năng cố định lân thấp ($15 - 20\text{ mg } P/\text{kg}$ đất), khi bón phân lân liên tục qua các vụ, hàm lượng $P_{dt}$ tích lũy trong đất tăng lên rõ rệt ($1,18 - 35,17\text{ mg } P_2O_5/100\text{g}$). Ngược lại, kali bị rửa trôi mạnh khiến $K_{dt}$ luôn ở ngưỡng nghèo.
- Khả năng hấp thu dinh dưỡng và năng suất: Phân đạm đóng vai trò chi phối lớn nhất đến sinh trưởng sinh dưỡng, chỉ số diện tích lá và số bông/bụi. Lân có hiệu lực cao ở giai đoạn đầu, kích thích rễ phát triển và tăng số hạt chắc/bông. Kali có vai trò đặc biệt quan trọng trên đất xám bạc màu, giúp cải thiện tỷ lệ hạt chắc và khả năng chống đổ.
- Hiệu lực trực tiếp, tồn dư và cộng dồn của phân bón:
- Hiệu lực trực tiếp: Đạm thể hiện hiệu lực trực tiếp tuyệt đối trong từng vụ canh tác, không có hiệu lực tồn dư sang vụ sau do bị bay hơi, phản đạm hóa hoặc rửa trôi. Hiệu lực trực tiếp của đạm ở vụ lúa xuân cao hơn vụ lúa mùa.
- Hiệu lực tồn dư của lân và kali: Phân lân có hiệu lực tồn dư kéo dài $1 - 2$ vụ tiếp theo, đặc biệt trên đất xám bạc màu do lân tích lũy ở dạng dễ tiêu không bị đất giữ chặt. Phân kali có hiệu lực tồn dư thấp hơn lân và thể hiện rõ hơn trên đất phù sa sông Thái Bình so với đất xám bạc màu (nơi kali dễ bị rửa trôi).
- Hiệu lực cộng dồn: Bón lân và kali liên tục qua nhiều vụ tạo ra hiệu lực cộng dồn rõ rệt, cho phép cắt giảm lượng bón lân và kali ở các vụ sau mà vẫn duy trì năng suất cây trồng tối ưu.
- Liều lượng phân bón khuyến cáo tối ưu:
| Loại đất / Vùng |
Cây trồng - Mùa vụ |
Lượng đạm ($N$) |
Lượng lân ($P_2O_5$) |
Lượng kali ($K_2O$) |
| Đất phù sa sông Thái Bình (Hải Dương) |
Lúa thuần vụ xuân |
$90\text{ kg/ha}$ |
$30\text{ kg/ha}$ |
$45\text{ kg/ha}$ |
|
Lúa thuần vụ mùa |
$90\text{ kg/ha}$ |
$30\text{ kg/ha}$ |
$45\text{ kg/ha}$ |
| Đất xám bạc màu (Bắc Giang) |
Lúa thuần vụ xuân |
$90\text{ kg/ha}$ |
$30\text{ kg/ha}$ |
$90\text{ kg/ha}$ |
|
Lúa thuần vụ mùa |
$80\text{ kg/ha}$ |
$23\text{ kg/ha}$ |
$80\text{ kg/ha}$ |
|
Ngô lai vụ đông |
$200\text{ kg/ha}$ |
$90\text{ kg/ha}$ |
$150\text{ kg/ha}$ |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên xác định đầy đủ và định lượng được hiệu lực trực tiếp của phân đạm ($N$), lân ($P$), kali ($K$), cũng như hiệu lực tồn dư và hiệu lực cộng dồn của lân và kali trong các hệ thống luân canh chuyên lúa (lúa xuân - lúa mùa) trên đất phù sa sông Thái Bình và luân canh lúa - màu (lúa xuân - lúa mùa - ngô đông) trên đất xám bạc màu miền Bắc.
- Cung cấp cơ sở khoa học về động thái dinh dưỡng khoáng trong đất thông qua đánh giá lượng hút dinh dưỡng của cây trồng, sự biến đổi hàm lượng lân dễ tiêu ($P_{dt}$) và kali dễ tiêu ($K_{dt}$) dưới tác động của các chế độ bón phân khoáng liên tục và ngắt quãng qua nhiều mùa vụ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án đã xây dựng và đề xuất quy trình bón phân khoáng đa lượng tiết kiệm, hợp lý, giảm đáng kể lượng bón $P$ và $K$ so với tập quán bón phân truyền thống của nông dân và các quy trình khuyến cáo cũ, giúp hạ giá thành sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa và ngô.
- Giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và hiện tượng phú dưỡng nguồn nước do dư thừa phân bón khoáng gây ra trong canh tác nông nghiệp tại lưu vực sông Thái Bình và vùng trung du Bắc Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các thí nghiệm thực nghiệm của luận án tập trung chủ yếu trên đối tượng lúa thuần và ngô lai trong phạm vi địa bàn hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang với hai loại đất cụ thể (đất phù sa không được bồi chua và đất xám bạc màu trên phù sa cổ). Chưa mở rộng đánh giá trên các nhóm giống lúa lai, lúa chất lượng cao hoặc các loại cây trồng cạn khác trong cơ cấu luân canh vụ đông.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân bón đa lượng kết hợp với phân hữu cơ, phân vi lượng ($Zn, B$) và chất điều hòa sinh trưởng trên các chân đất khác nhau; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển hóa vi sinh vật đất trong điều kiện biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp số liệu thực chứng phục vụ việc xây dựng chiến lược cân đối cung - cầu phân bón quốc gia, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa bền vững và ban hành các tiêu chuẩn bón phân giảm phát thải.
- Đối với cán bộ khuyến nông và nông dân: Làm tài liệu hướng dẫn kỹ thuật điều chỉnh định mức bón phân đạm, lân, kali hợp lý cho từng mùa vụ tại vùng đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Nông học, Khoa học đất, Thổ nhưỡng - Nông hóa: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu hiệu lực trực tiếp, tồn dư và cộng dồn của phân bón khoáng đa lượng trong hệ thống canh tác nhiều vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao phân đạm chỉ có hiệu lực trực tiếp mà không có hiệu lực tồn dư trong đất?
Đạm ($N$) trong đất sau khi bón chủ yếu tồn tại ở dạng vô cơ hòa tan ($NH_4^+$, $NO_3^-$). Phần đạm không được cây trồng hấp thu sẽ nhanh chóng bị thất thoát qua quá trình bay hơi amoniac ($NH_3$), phản đạm hóa tạo thành khí nitơ ($N_2, N_2O$), hoặc bị rửa trôi theo dòng nước mặt và thấm sâu xuống tầng nước ngầm, do đó không lưu giữ lại được trong đất để tạo hiệu lực tồn dư cho vụ sau.
2. Sự khác biệt về khả năng hấp thu lân giữa đất phù sa sông Thái Bình và đất xám bạc màu là gì?
Đất xám bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha, thịt nhẹ), dung tích hấp thu ($CEC$) thấp ($5,3 - 9,8\text{ me}/100\text{g}$) nên khả năng hấp thu lân rất thấp (chỉ $15 - 20\text{ mg } P/\text{kg}$ đất). Khi bón lân, lượng lân dễ tiêu không bị giữ chặt mà tích lũy nhanh trong dung dịch đất. Ngược lại, đất phù sa sông Thái Bình có thành phần cơ giới nặng hơn và dung tích hấp thu cao hơn, khả năng cố định lân lớn hơn nhiều ($150 - 200\text{ mg } P/\text{kg}$ đất).
3. Tại sao nhu cầu bón phân kali cho cây lúa trên đất xám bạc màu lại cao hơn trên đất phù sa sông Thái Bình?
Đất xám bạc màu miền Bắc có hàm lượng kali tổng số ($K_{ts}$ trung bình $0,14% K_2O$) và kali dễ tiêu ($K_{dt}$ trung bình $3,9\text{ mg } K_2O/100\text{g}$ đất) ở mức rất nghèo do quá trình rửa trôi mạnh các cation kiềm và kiềm thổ. Trong khi đó, đất phù sa sông Thái Bình có hàm lượng kali tổng số khá ($1,84% K_2O$) và $K_{dt}$ đạt $6,52\text{ mg } K_2O/100\text{g}$ đất, do đó lượng bón kali khuyến cáo cho lúa trên đất xám bạc màu ($80 - 90\text{ kg } K_2O/\text{ha}$) cao gấp đôi so với đất phù sa sông Thái Bình ($45\text{ kg } K_2O/\text{ha}$).
4. Lượng phân bón $NPK$ cụ thể được luận án khuyến cáo cho cây ngô lai vụ đông trên đất xám bạc màu là bao nhiêu?
Đối với ngô lai vụ đông trong hệ thống luân canh lúa xuân - lúa mùa - ngô đông trên đất xám bạc màu tại Bắc Giang, mức bón khuyến cáo tối ưu cho 1 ha là: $200\text{ kg } N$ + $90\text{ kg } P_2O_5$ + $150\text{ kg } K_2O$.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Ngọc Hưng đã giải quyết trọn vẹn vấn đề xác định hiệu lực trực tiếp của phân đạm, lân, kali cùng hiệu lực tồn dư và cộng dồn của lân, kali đối với cây lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ động thái chuyển hóa dinh dưỡng khoáng và quy luật tích lũy lân, kali trong đất qua nhiều vụ canh tác liên tiếp. Các công thức bón phân tối ưu được đề xuất là căn cứ khoa học vững chắc giúp giảm lượng phân bón vô cơ dư thừa, gia tăng hiệu quả kinh tế và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững.