Đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân và luân canh cây màu

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân tưới khôngập luân phiên và, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Chuyên ngành

Khoa Học Đất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

173
16
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM TẠ

LÝ LỊCH KHOA HỌC

TÓM LƯỢC

ABSTRACT

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

3. CHƯƠNG 3: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Luận án Tiến sĩ của Vũ Văn Long tập trung vào đánh giá khả năng cung cấp lân (P) của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân, tưới khô-ngập luân phiên và luân canh với cây màu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nghiên cứu này xuất phát từ thực tế nông dân thường bón lân dư thừa, gây tích lũy trong đất, trong khi việc thay đổi biện pháp canh tác như tưới ngập-khô xen kẽ (AWD) và luân canh cây trồng đang được áp dụng để thích ứng với tình hình xâm nhập mặn và khan hiếm nước ngọt. Luận án đặt ra mục tiêu khuyến cáo bón phân lân hợp lý, dựa trên việc đánh giá khả năng cung cấp lân hữu dụng của đất trong các điều kiện canh tác khác nhau.

1.1 Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm:

  • Đánh giá ảnh hưởng của bón giảm lân đến khả năng cung cấp lân và năng suất lúa.
  • Đánh giá ảnh hưởng của AWD đến khả năng cung cấp lân và năng suất lúa.
  • Đánh giá ảnh hưởng kết hợp AWD và bón giảm lân.
  • Đánh giá ảnh hưởng của luân canh cây rau màu trên nền đất lúa đến khả năng cung cấp lân.

1.2 Nghiên cứu được thực hiện trên đất phù sa và đất phèn hoạt động tại ba địa điểm: Bạc Liêu, Cần Thơ và An Giang. Tác giả đã sử dụng các thí nghiệm đồng ruộng với thiết kế khối hoàn toàn ngẫu nhiên và lô chính-phụ để đánh giá các nghiệm thức khác nhau về liều lượng lân và chế độ tưới. Các chỉ tiêu được phân tích bao gồm hàm lượng lân hữu dụng, tổng lân, khả năng hấp phụ lân, năng suất lúa và sinh khối. "...farmers have traditionally applied high P fertilizer to compensate the P fixed in soil...This study aimed at achieving P fertilization recommendation..." cho thấy rõ mục tiêu của nghiên cứu là hướng đến việc bón phân lân hiệu quả hơn.

II. Kết quả nghiên cứu và phân tích

2.1 Về bón giảm lân: Kết quả cho thấy bón lân ở liều lượng thấp (20-40 kg P2O5/ha) không làm giảm đáng kể hàm lượng lân hữu dụng trong đất và năng suất lúa so với liều lượng cao hơn (60 kg P2O5/ha). Bón 40 kg P2O5/ha được xem là liều lượng tối ưu, vừa duy trì được lượng lân trong đất, vừa đáp ứng nhu cầu của cây lúa. "...available P in the treatments applied with 0 and 20 kg P2O5/ha did not differ significantly the treatments applied with 40 and 60 kg P2O5/ha...".

2.2 Về tưới AWD: Áp dụng AWD giúp tiết kiệm 9-19% lượng nước tưới. Tưới khi mực nước ruộng giảm -15 cm không ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cung cấp lân và năng suất lúa so với tưới ngập liên tục. Tuy nhiên, tưới khi mực nước giảm -30 cm làm giảm hàm lượng lân hữu dụng, tăng độ dẫn điện trong đất và có xu hướng giảm năng suất. "Application of AWD irrigation technique...saved 9-19% irrigating water...Irrigating when the water level dropped to -15 cm resulted in no significant differences...".

2.3 Về luân canh cây trồng: Luân canh lúa với cây rau màu không làm giảm đáng kể hàm lượng lân hữu dụng trong đất. Thậm chí, một số loại cây trồng như đậu nành và mè còn có thể cải thiện khả năng cung cấp lân cho vụ lúa tiếp theo. "...there was no statistical difference in soil available P content in the mono-rice treatment as compared with the rotation treatments...".

2.4 Khả năng hấp phụ lân: Đất phèn tại An Giang có khả năng hấp phụ lân cao hơn đáng kể so với đất phù sa tại Bạc Liêu và Cần Thơ. Điều này cho thấy cần có sự điều chỉnh liều lượng bón lân phù hợp với từng loại đất. "The maximum P-adsorption capacity...in the acid sulfate soil at An Giang was...significantly higher than...in the alluvial soil in Bac Lieu and in Can Tho..."

III. Khuyến cáo và giá trị thực tiễn

3.1 Nghiên cứu khuyến cáo áp dụng AWD ở mức -15 cm kết hợp với bón lân 40 kg P2O5/ha cho đất phù sa canh tác lúa. Giải pháp này vừa tiết kiệm nước tưới và phân bón, vừa duy trì năng suất lúa và hạn chế tích lũy lân trong đất. "Applying AWD irrigation when the water level dropped to -15 cm combined with applying P fertilizer at a rate of 40 kg P2O5/ha was recommended...".

3.2 Luân canh lúa với cây rau màu là một giải pháp khả thi để thay thế độc canh lúa, giúp duy trì và cải thiện khả năng cung cấp lân của đất.

3.3 Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý lân hiệu quả trong canh tác lúa ở ĐBSCL, góp phần giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Việc xác định liều lượng bón lân tối ưu và kết hợp với các biện pháp canh tác thích hợp sẽ giúp giảm thiểu lãng phí lân, hạn chế ô nhiễm nguồn nước và đất do lân dư thừa.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự gia tăng dân số trên thế giới, vấn đề anh ninh lương thực đang tạo áp lực rất lớn lên ngành sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng lúa nước. Do đó, cải thiện các biện pháp canh tác lúa như tăng vụ, tăng sử dụng lượng phân bón đã được thực hiện nhằm duy trì và gia tăng sản lượng lúa. Trong canh tác lúa, lân (P) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cần thiết bên cạnh đạm (N) và kali (K) (Tanwar và Shaktawat, 2003; Li et al., 2005; Zhang et al., 2009; Yu et al. Hiện nay, sử dụng phân P trong canh tác nông nghiệp nói chung và đặc biệt là canh tác lúa nước đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học do nguồn tài nguyên P đang ngày càng cạn kiệt và trở nên không thể phục hồi (Cordell et al.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, hằng năm cung cấp khoảng 90% sản lượng lúa xuất khẩu của cả nước. Cùng với sản lượng cao nên phân bón sử dụng trong canh tác lúa ở ĐBSCL mỗi năm rất cao. Đối với phân P, lượng phân được nông dân bón trên đất lúa thực tế thường cao hơn khuyến cáo và cao hơn tổng lượng P được cây lúa hấp thu và lấy đi khỏi đất qua thu hoạch và rơm rạ do khả năng hữu dụng của P trong đất canh tác lúa thường thấp do P bị cố định bởi phản ứng với các nguyên tố như sắt (Fe), nhôm (Al), canxi (Ca) và các keo sét. Theo Vũ Văn Long và ctv.

(2016), nông dân tại tỉnh Bạc Liêu bón phân P với liều lượng phổ biến từ 60 đến 90 kg P2O5/ha trong vụ Đông Xuân 2013-2014 tại tỉnh Bạc Liêu mặc dù lượng P được cây lúa lấy đi khoảng 40 kg P2O5/ha. Bón phân P cao trong nhiều năm có thể đã tăng tích lũy P trong đất canh tác lúa, gây lãng phí lượng phân P và tăng chi phí sản xuất. Kết quả nghiên cứu trên vùng đất phèn trồng lúa tại huyện Phụng Hiệp của tỉnh Hậu Giang cho thấy đối với nghiệm thức bón 90 kg P2O5/ha kết hợp với bón 120 kg N/ha ở vụ 1 và không bón phân P sau 2 vụ liên tiếp thì hiệu quả sử dụng phân P vẫn lưu tồn đến vụ thứ 3, năng suất lúa ở hai vụ sau đối với nghiệm thức không bón P khác biệt không ý nghĩa so với nghiệm thức có bón phân P (Võ Thị Gương và ctv. Kết quả nghiên cứu về tích lũy P trong đất trồng rau màu ở ĐBSCL cũng ghi nhận hàm lượng P hữu dụng trong đất ở nhiều vùng trồng rau chuyên canh tại các tỉnh như huyện Châu Thành (Tiền Giang), huyện Chợ Mới (An Giang), huyện Bình Tân (Vĩnh Long) và huyện Châu Thành của tỉnh Trà Vinh thường rất cao (129-234 mg P/kg) do tập quán bón phân P với liều lượng cao (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2006; Phạm Thị Phương Thúy và ctv.

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy hiện tượng tích lũy P trong đất đã và đang diễn ra ở các 1 vùng sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2006; Phạm Thị Phương Thúy và ctv. Do đó, bón giảm lượng phân P trong canh tác lúa là một trong những vấn đề cần được nghiên cứu nhằm giảm chi phí phân bón, tăng hiệu quả sử dụng phân P trong khi vẫn duy trì lượng P trong đất và năng suất lúa. Bón giảm phân P trong canh tác lúa có thể sẽ làm thay đổi khả năng cung cấp P hữu dụng trong đất. Bên cạnh đó, thay đổi biện pháp canh tác để thích hợp với tình trạng khan hiếm nước ngọt trong tình hình xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng ở ĐBSCL cũng có thể ảnh hưởng đến độ hữu dụng của P trong đất.

Trong canh tác lúa truyền thống, nông dân thường xuyên giữ nước trên mặt ruộng, nhưng để thích ứng với lượng nước ngọt để sản xuất lúa đang giảm đi trong những năm gần đây thì áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm nước trong canh tác lúa là cần thiết. Theo Bouman et al. (2007a), một số điểm nóng trồng lúa nước của nhiều quốc gia trên thế giới sẽ bị thiếu nước tưới bao gồm Philippines, Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và vùng ĐBSCL của Việt Nam. Ở ĐBSCL, theo dự đoán của các nhà khoa học, mực nước biển sẽ gia tăng 30 cm cho đến năm 2050 và diện tích sản xuất lúa của ĐBSCL sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tình trạng xâm nhập mặn (Smajgl et al.

Theo tính toán, khoảng 2,3 triệu ha diện tích canh tác lúa chịu ảnh hưởng lớn (= 60% diện tích sản xuất lúa của ĐBSCL), 0,6 triệu ha (= 15% diện tích sản xuất lúa) chịu ảnh hưởng trung bình và 1 triệu ha (= 25% diện tích sản xuất lúa) chịu ảnh hưởng một phần của xâm nhập mặn (Wassmann et al. Do đó, thay đổi kỹ thuật canh tác lúa bằng cách áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm nước cho lúa và thay đổi cơ cấu cây trồng từ chuyên canh lúa sang luân canh lúa-màu nhằm ứng phó với tình trạng thiếu hụt nguồn nước ngọt và xâm nhập mặn là vấn đề hết sức cấp bách. Trong đó, biện pháp tưới khô-ngập luân phiên hay còn gọi là biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ (AWD-Alternate wetting and drying irrigation) được xem là biện pháp có rất nhiều triển vọng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng, so với tưới nước theo phương pháp truyền thống, biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thể giúp tiết kiệm được nguồn nước tưới trong canh tác mà vẫn duy trì được năng suất lúa.

Sau giai đoạn lúa trổ, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thể giúp giảm 40-70% lượng nước vào ruộng so với kỹ thuật tưới ngập truyền thống (Hatta, 1967; Singh et al. Biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Bangladesh, Philippines, Pakistan và Ấn Độ. Ở Trung Quốc, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thế giúp tiết kiệm được từ 5-35% lượng nước tưới cho lúa (Li, 2001; Belder et al., 2004; Cabangon et al., 2004; Li và Barker, 2004; Moya et al., 2004; Yang et al., 2 2005; Tao et al., 2006; Feng et al., 2007; Cabangon et al., 2011; Tan et al. Một số kết quả nghiên cứu khác cho thấy có thể áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ ở Bangladesh, Philippines và Pakistan trong canh tác lúa mà vẫn duy trì được năng suất lúa so với tưới ngập liên tục (Aslam và Prathapar, 2001; Tabbal et al., 2002; Lampayan et al., 2004; Belder et al., 2005; Tuong, 2007; Bouman et al., 2007a; Salim và Shehzad, 2008; Rejesus et al., 2011; Bouman và Tuong, 2001).

Ở ĐBSCL, biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ cũng đã được thử nghiệm tại một số địa phương trọng điểm sản xuất lúa ba vụ như An Giang và Bạc Liêu. Kết quả cho thấy biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ giúp tiết kiệm lượng nước và chi phí tưới, năng suất lúa vẫn ổn định nếu như vẫn đảm bảo lượng nước tưới tại những giai đoạn sinh trưởng quan trọng của lúa (nhảy chồi tích cực, trổ hoa). Lượng nước tiết kiệm được khi áp dụng tưới ngập-khô xen kẽ có thể đạt được 9% (Nhan et al., 2007), 21% (Dung et al., 2009) và có thể đạt 50% (Phạm Phước Nhẫn và ctv. Bên cạnh áp dụng biện pháp tưới nước tiết kiệm, thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng luân canh lúa với các loại cây trồng có nhu cầu tiêu thụ nước ít có thể ứng phó được với tình trạng thiếu hụt nguồn nước và hạn chế ảnh hưởng của xâm nhập mặn.

Trong các hệ thống luân canh, luân canh cây rau màu trên nền đất lúa được xem là giải pháp mang lại nhiều triển vọng cho ngành nông nghiệp. Do thời gian sinh trưởng của cây màu ngắn hơn so với cây lúa, do đó người dân có thể chủ động canh tác và thu hoạch trước khi tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn diễn ra. Các nghiên cứu trước đây cho thấy canh tác lúa sau khi áp dụng biện pháp luân canh còn có thể giúp tăng năng suất lúa so với mô hình độc canh lúa (Nguyễn Minh Đông và ctv., 2009; Võ Thị Gương và ctv. Sau vụ canh tác rau màu, năng suất lúa vụ tiếp theo có thể gia tăng từ 13-20% (Witt et al.

Áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và chuyển đổi mô hình canh tác lúa truyền thống sang mô hình luân canh lúa với cây màu sẽ làm thay đổi tình trạng thoáng khí của đất, từ đó ảnh hưởng đến các phản ứng hóa học trong đất có liên quan đến tiến trình khử các hợp chất Fe, Al có khả năng liên kết với P, do đó dẫn đến sự thay đổi về khả năng cung cấp P hữu dụng trong đất. P hữu dụng trong đất là một chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất rất quan trọng bên cạnh N và K. Ngoài ra, P hữu dụng cũng được xem là một trong những công cụ để đánh giá tác động đối với môi trường của P trong đất (Allen và Mallarino, 2006). Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có rất nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và biện pháp luân canh cây màu đối với dinh dưỡng N của cây trồng, chuyển hóa N trong đất và phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính như N2O trong quá trình canh tác lúa (Cabangon et 3 al., 2004; Huan et al., 2008; Dong et al.

Tuy nhiên, những nghiên cứu về ảnh hưởng của bón giảm phân P, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ, kết hợp biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ với bón giảm phân P và áp dụng luân canh lúa-màu đến khả năng cung cấp P của đất lúa ở ĐBSCL còn rất hạn chế. Do đó, nghiên cứu về đánh giá khả năng cung cấp P của đất lúa dưới điều kiện bón giảm phân P, thay đổi biện pháp tưới ngập trong canh tác lúa truyền thống bằng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và luân canh lúa-màu là rất cần thiết ở ĐBSCL, đặc biệt trong điều kiện nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm do phát triển thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu Long và xâm nhập mặn trong mùa khô. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn giúp quản trị nguồn tài nguyên P một cách hợp lý và hiệu quả trong canh tác lúa thích ứng với điều kiện thiếu nước tưới và xâm nhập mặn có xu hướng gia tăng ở ĐBSCL.2 Cở sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu Lân (P) là một trong những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân và luân canh cây màu" của tác giả Vũ Văn Long, dưới sự hướng dẫn của Pgs. Châu Minh Khôi tại Trường Đại Học Cần Thơ, tập trung vào việc phân tích khả năng cung cấp lân của đất lúa khi áp dụng các phương pháp bón lân giảm và tưới khô-ngập luân phiên. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc tính của đất lúa mà còn đề xuất các biện pháp tối ưu hóa việc sử dụng phân bón, từ đó cải thiện năng suất cây trồng trong điều kiện canh tác hiện đại. Đặc biệt, bài viết rất hữu ích cho những ai quan tâm đến việc phát triển nông nghiệp bền vững và hiệu quả.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và khoa học đất, hãy tham khảo thêm các bài viết như Luận án tiến sĩ về hiệu lực của phân vô cơ đa lượng đối với cây lúa trên đất phù sa sông Thái Bình, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về hiệu quả của phân bón đối với cây lúa. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về nghiên cứu các dòng bố mẹ thơm cho giống lúa lai chất lượng cao cũng sẽ cung cấp những thông tin bổ ích về chọn giống lúa. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Nghiên cứu phát triển giống ngô nếp lai chất lượng cao và hàm lượng anthocyanin để có cái nhìn tổng quát hơn về các nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp và kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp hiện đại.