CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của ngành sản xuất dâu tằm tơ Sự ra đời và phát triển của nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa đầy ắp những truyền thuyết và huyền thoại. Nhiều tài liệu cho rằng nghề trồng dâu nuôi tằm xuất hiện cách đây trên 5000 năm tại Trung Quốc, được gắn với Hoàng hậu Xi Ling Shi, là người đầu tiên đã tình cờ phát hiện ra tơ tằm (Lê Hồng Vân, 2008) [32], (Huo, Yong kang, 2000) [59], (Jong Sung Lim, 2008) [63], (Soo-Ho Lim et al. Tháng 7 năm 2007, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã phát hiện ra vải lụa trong một ngôi mộ ở tỉnh Giang Tây có từ đời nhà Đông Chu (Eastern Zhou Dynasty), cách đây khoảng 2500 năm (www. Theo bản dịch của Bùi Sĩ Toán từ cuốn L Histoire de lasoie cho rằng: năm 2640 trước công nguyên, Trung Quốc đã kéo được sợi tơ từ con kén.
Từ đây nghề này lan truyền ra nhiều nước trên thế giới bằng ''con đường tơ lụa'' (Nguyễn Trọng Nhượng, 2000) [15], (Phạm Sĩ Toán, 1989) [23], (Lê Hồng Vân, 2008) [32]. Các vị vua Trung Hoa đã cố gắng giữ bí mật nghề nuôi tằm nhằm giữ thế độc quyền. Tuy nhiên, người Triều Tiên đã học được nghề này vào khoảng năm 200 trước Công nguyên, sau đó là người Khotan cổ vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ nhất, tiếp đến Nhật Bản, Ấn Độ khoảng năm 300 sau Công nguyên (Guo chang- Wu, Dong shi- Shong, 1989) [52], (Sindo Arata and Yabe, 1972) [90]. Đến thế kỷ 4, nghề dâu tằm phát triển rất mạnh ở Ấn Độ và được coi như là trung tâm dâu tằm của châu Á (Mannual D.
Từ Ấn Độ, nghề dâu tằm phát triển sang các nước khác. Trong đó trứng tằm và hạt dâu được xuất sang Ả Rập, tơ lụa được xuất khẩu sang Ý và các nước châu âu khác. Đến thế kỷ 6 người Roma đã học được kỹ nghệ sản xuất 7 tơ và đã hoàn toàn chiếm lĩnh trong lĩnh vực sản xuất này ở châu Âu (Anonymous, 1975) [40]. Trong thế kỷ 19, thế giới bị dịch tằm gai (Nosema), do đó ngành dâu tằm đã bị khủng hoảng.
Sau khi Louis Pasteur nghiên cứu phòng trừ được bệnh, ngành dâu tằm tiếp tục được phát triển mở rộng (Maji, 2002) [74]. Trải qua quá trình thăng trầm, nghề trồng dâu nuôi tằm vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Trong những năm giữa và cuối của thế kỷ 20, dâu tằm là một nghề nông nghiệp quan trọng ở các nước phát triển như: Nhật, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ý,… vv. Ở nước ta, trồng dâu nuôi tằm có lịch sử rất lâu đời và được coi là nghề sản xuất cổ truyền.
Theo cuốn Lịch sử Nông nghiệp Việt Nam, nghề trồng dâu nuôi tằm ở nước ta đã có cách đây trên 4000 năm. Từ thế kỷ thứ 10 nghề sản xuất dâu tằm tập trung phát triển ở các tỉnh phía Bắc và từ thế kỷ thứ 15 thì mở rộng ra các tỉnh miền Trung và Nam bộ (Nguyễn Trọng Nhượng, 2000) [15]. Sách ''Vân Đài Loại Ngữ " của Lê Quý Đôn cho rằng nghề trồng dâu nuôi tằm có sau nghề trồng lúa, "nghề dệt tồn tại và phát triển suốt thời Hùng Vương" (dẫn theo Nguyễn Văn Long, 1995) [12]. Trong cuốn sách lưu trữ ở một ngôi đền làng Cổ Đô cho biết công chúa Thiều Hoa con Vua Hùng thứ sáu là người đầu tiên phát hiện ra nghề trồng dâu nuôi tằm, đến đầu thời Lý nghề nuôi tằm dệt lụa phát triển rất mạnh "Nghề chăn tằm dệt lụa vốn là nghề cổ truyền của dân tộc, đâu đâu cũng thấy những ruộng dâu xanh rì, nuôi tằm tám lứa trong một năm".
Sang thời nhà Lý, nghề nuôi tằm dệt lụa phát triển rất mạnh. Nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển từ rất lâu ở nước ta: gắn liền với những địa danh như: Xã Thổ Tang, Vĩnh Phúc; làng Tằm Xá, Hà Nội; làng Tân Châu của An Giang; Lụa Hạ ở Hà Tĩnh… và đã đi vào tiềm thức, lưu truyền qua tục ngữ, ca dao như: "Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng, vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông" (Nguyễn Công Minh, 2002) [14], (Nguyễn Trọng Nhượng, 2000) [12], (Lê Hồng Vân, 2008) [32].2 Phân bố và phân loại cây dâu Cây dâu tằm (Morus alba L.) thuộc họ Moraceace vốn là cây hoang dại, sống lưu niên. Nhà thực vật học người Nga, N.I Vavilov cho rằng chi Morus. L phát sinh tại vùng trung tâm Trung Quốc, Nhật Bản, bao gồm vùng phía đông Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản (Hotta,1938) [58].
Vào khoảng năm 2800 trước công nguyên, nghề trồng dâu nuôi tằm đã xuất hiện ở Trung Quốc (www. Cây dâu có tính thích ứng rất rộng: từ vùng ôn đới đến cận nhiệt đới và nhiệt đới, từ đồng bằng màu mỡ đến những vùng khô cằn, từ vùng đất thấp đến tận những vùng núi cao và từ vùng ẩm ướt đến bán sa mạc (Seki and Oshikana, 1969) [87]. Sở dĩ sự phân bố rộng rãi của cây dâu ở nhiều vùng trên thế giới là do chúng dễ dàng thích nghi với những điều kiện sinh thái khác nhau, từ những vùng đất ngang mực nước biển đến tận những vùng núi cao đến 4000m và từ những vùng nhiệt đới ẩm ướt đến vùng bán sa mạc như Trung Cận Đông nơi lượng mưa chỉ đạt 250mm/năm. Tuy nhiên, cây dâu ưa khí hậu mát cho nên phân bố nhiều ở vùng nhiệt đới.
Ở vùng ôn đới, cây dâu sinh trưởng phát triển chủ yếu vào mùa hè. Theo kết quả điều tra của Hiệp hội Tơ tằm thế giới, cây dâu được phân bố từ 500 vĩ bắc và kéo dài đến 100 vĩ nam (Võ Tá Linh, Phan Đình Sơn, 1990) [11], (Katsumata, 1972, 1973) [68, 69], (Sindo S S Arata and Yabe, 1972) [89]. Trong hệ thống phân loại thực vật chính thức được công nhận, cây dâu thuộc: Ngành: thực vật (Spermatophyta); Lớp (class): cây hạt kín (Angiospermae); Lớp phụ (subclass): hai lá mầm (dicotyledoneace); Bộ (order): gai (Urticales); Họ (family): dâu (Moraceae); Chi (genus): dâu tằm (Morus); Loài (species): alba, multicaulis, rubra, indica, nigra,…vv. Hiện nay 9 có khoảng 68 loài dâu thuộc chi Morus, phần lớn chúng phân bố ở châu Á và bắt nguồn từ 4 loài chính: Morus alba, M.
Ở Việt Nam có trên 100 giống dâu, chủ yếu thuộc các loài M. Công tác phân loại dâu chủ yếu hiện nay dựa vào gen, dựa vào mô tả về hình thái cây, các đặc trưng đặc tính của thân cành, lá, hoa, quả, …vv (Shankar. Nghiên cứu phân loại cây dâu, giai đoạn từ 1846 - 1851 Ledebour phân loại 2 loài Morus dựa vào hình dáng đầu nhụy. Năm 1885 khi nghiên cứu phân loại cây dâu, Hoocker đã nghiên cứu mô tả rất rõ về đặc tính thực vật của cây dâu và cho rằng cây dâu có lá mọc cách, xẻ thuỳ hoặc không xẻ thuỳ, hoa đơn tính đồng chu hoặc dị chu,.
Hotta (1938) [58] phân loại cây dâu thành 2 nhóm dựa vào hình dạng và hoạt động của nang kén trong lá, tuy nhiên năm 1954 ông phân loại dâu như Koidzumi và chia các loại phụ dựa vào đặc điểm của thân lá. Nghiên cứu về cây dâu, Katsumata (1973) [69] lại đề xuất phân loại dâu dựa vào tế bào đặc dị.3 Yêu cầu sinh thái của cây dâu 1.1 Nhiệt độ Nhiệt độ là một trong những nhân tố sinh thái quan trọng đối với cây trồng nói chung, bởi nhiệt độ có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng, phát dục, năng suất chất lượng cây trồng. Đối với cây dâu, nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất có ảnh hưởng, quan hệ mật thiết với sinh trưởng và phát triển. Ở các 10 nước ôn đới, vào mùa đông khi nhiệt độ dưới 0 0C cây dâu ngừng sinh trưởng, từ -20 C đến - 10 C dẫn đến các cành dâu non bị chết.
Cây dâu nảy mầm và sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ thích hợp từ 24 - 320C (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995) [3]. Sự Sinh trưởng của cây dâu nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhiệt độ cao hay thấp. Khi nhiệt độ dưới 00C, cây dâu ngừng sinh trưởng, nhiệt độ không khí tăng trên 120C thì cây dâu bắt đầu nảy mầm, khi nhiệt độ quá cao cây ngừng sinh trưởng, đặc biệt nhiệt độ không khí trên 40 0C dẫn đến một số bộ phân của cây dâu bị chết. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng của thân cành từ 30 - 320C (Sindo S S Arata and Yabe, 1972) [89].
Theo một số nghiên cứu khác cho rằng, nhiệt độ thích hợp cho cây dâu sinh trưởng là 24 - 280C, dưới 130C và trên 390C cây dâu sẽ hạn chế sự nảy mầm và sinh trưởng (Guo chang- Wu, Dong shi- Shong, 1989) [52]. Trong một năm, sự sinh trưởng phát triển của rễ dâu thay đổi theo mùa, rễ bắt đầu hoạt động khi nhiệt độ bề mặt đất (xung quanh 30 cm) trên 5 0C và ngược lại rễ ngừng hoạt động khi dưới 50C. Cây ra rễ mới khi nhiệt độ khoảng 100C và cây có thể hút dinh dưỡng khi nhiệt độ khoảng 250C. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đến một số giống dâu tại Ấn Độ, các nhà khoa học cho rằng điều kiện tối ưu cho nảy mầm và sinh trưởng phải từ 13 0C trở lên, trên 37,70 C cây ngừng sinh trưởng và nhiệt độ thích hợp từ 23,9 - 26,60 C (Mandal, 1993) [76].
Mức độ bị hại của cây dâu do nhiệt độ cao tùy thuộc vào giống dâu, điều kiện đất đai, canh tác. Những giống dâu mới chọn tạo hiện nay có bản lá to cho nên mức độ bị hại do nhiệt độ cao sẽ nặng hơn so với những giống dâu cũ, giống địa phương có lá nhỏ (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995) [3]. Để phòng ngừa tác hại gây ra cho cây dâu khi nhiệt đột thấp, các nhà khoa học Liên Xô cho rằng cần phải khống chế dòng chảy nước từ trong tế bào ra 11 khoảng trống giữa các tế bào và tăng cường tích lũy vật chất trong cây tức là phải tích lũy hydrat cacbon sẽ làm thay đổi trạng thái keo nguyên sinh chất và hàm lượng nước trong tế bào (Quang Tu Le, 1993 [84]. Như vậy phải cung cấp đủ dinh dưỡng trong giai đoạn đầu phát triển, khi gặp lạnh thì giữ cây ở thế thành thục và không được tưới nước.2 Ánh sáng Dâu là loại cây trồng ưa ánh sáng, năng suất chất lượng lá có quan hệ mật thiết với điều kiện chiếu sáng.
Số giờ chiếu sáng 10 - 12 giờ/ngày là tốt nhất. Thiếu ánh sáng lá dâu mỏng, thân mềm yếu, chất lượng lá dâu kém. Cây dâu có thể hấp thu ánh sáng có độ dài từ 400 - 800 µ, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn cũng có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây dâu (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995) [3], (Võ Tá Linh, Phan Đình Sơn, 1990) [11].