Đặt vấn đề Rau xanh là thực phẩm rất cần thiết cho con ngƣời trong đời sống hàng ngày và cũng là loại thực phẩm không thể thay thế, bởi cây rau cung cấp rất nhiều chất quan trọng cho sự phát triển của con ngƣời nhƣ protein, lipit, vitamin, muối khoáng và nhiều chất quan trọng khác. Đặc biệt, cây rau có ƣu thế hơn một số cây trồng khác về vitamin và chất khoáng [1]. Rau là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, là một trong nhƣng mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị góp phần đáng kể trong thu nhập kinh tế quốc dân. Hiện nay có trên 40 nƣớc là thị trƣờng rau của nƣớc ta với các mặt hàng chủ yếu là ớt cay, cà chua và dƣa chuột [1].
Trong tất cả các loại rau phục vụ cho đời sống con ngƣời, có hơn 50% sản lƣợng các loại rau thuộc họ hoa thập tự nhƣ: su hào, cải bắp, cải xanh, cải thìa, cải bao, xúp lơ…Ngoài ra dƣa chuột cũng là một trong những loại rau đƣợc tiêu thụ nhiều nhất, đƣợc coi là loại rau chủ lực, chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu gieo trồng các loại rau hàng năm ở nƣớc ta [2]. Cây dƣa chuột thuộc họ bầu bí, là loại rau thƣơng mại quan trọng, là cây rau truyền thống, đƣợc trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều nƣớc. Hiện nay diện tích trồng dƣa chuột trên thế giới ngày càng đƣợc mở rộng với sản lƣợng ngày càng tăng [8]. Ở Việt Nam trong những năm gần đây cây dƣa chuột đã trở thành những cây rau quan trọng trong sản xuất.
Mặc dù sản phẩm dƣa chuột chế biến đang có thị trƣờng rộng lớn trên thế giới nhƣng thực tế nghề sản xuất dƣa chuột của nƣớc ta vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc và suất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu là do ngƣời nông dân thiếu bộ giống tốt cho các vùng sinh thái. Các giống dƣa chuột hiện trồng phổ biến trong sản xuất c 2 chủ yếu là các giống địa phƣơng nhƣ Tam Dƣơng, Phú Thịnh, Yên Mỹ, Nam Hà với năng suất thấp (15-25 tấn/ha) quả nhỏ, khả năng chống chịu kém, dễ nhiễm sâu bệnh hại. Để có thể khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của giống địa phƣơng, viện nghiên cứu rau quả Việt Nam đã tạo ra giống dƣa chuột GL1-2, đây là giống thích hợp trong vụ đông và vụ xuân hè tại các tỉnh phía Bắc.
Năng suất đạt trên 50 - 60 tấn/ha trong cả 2 thời vụ. Với đặc điểm là vỏ quả màu xanh, gai trắng, ruột đặc, ăn giòn, ngọt, chất lƣợng quả tốt, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trong nƣớc. Giống chịu bệnh sƣơng mai và phấn trắng tốt. Giống đƣợc công nhận sản xuất thử năm 2014 và đang đƣợc mở rộng diện tích tại các tỉnh nhƣ: Hƣng Yên, Hải Phòng, Hải Dƣơng, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thanh Hóa…[19].
Tuy nhiên nó chƣa đƣợc trồng phổ biển tại tỉnh Thái Nguyên. Để có thể phát triển sản xuất tại Thái Nguyên ngoài việc nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chăm sóc và sâu bệnh, việc nghiên cứu ảnh hƣởng của yếu tố thời vụ đến khả năng sinh trƣởng, phát triển và năng suất của giống là vấn đề rất cần thiết. Chính vì những thực tế trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống dưa chuột lai GL1 -2 vụ xuân hè năm 2016 tại Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của đề tài * Mục đích: Xác định đƣợc thời vụ trồng thích hợp nhất để cây sinh trƣởng, phát triển và năng suất đạt cao và chất lƣợng tốt để khuyến cáo cho sản xuất.
* Yêu cầu của đề tài: - Theo dõi ảnh hƣởng của thời vụ đến khả năng sinh trƣởng của giống dƣa chuột GL1-2. - Theo dõi ảnh hƣởng của thời vụ đến khả ra hoa đậu quả của giống dƣa chuột thí nghiêm. c 3 - Theo dõi ảnh hƣởng của thời vụ đến năng suất và một số chỉ tiêu chất chất lƣợng quả dƣa chuột GL1-2. - Theo dõi tình hình sâu và bệnh hại xuất hiện trên thí nghiệm.
- Ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học áp dụng vào thực tế, hỏi thêm kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình sản xuất. - Trong quá trình nghiện cứu đề tài sinh viên sẽ rút ra đƣợc phƣơng pháp và cách thức tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học. - Đề tài cũng đƣợc xem nhƣ là tài liệu tham khảo của Trƣờng, Khoa và của sinh viên các khóa tiếp theo.
* Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Xác định thời vụ trồng thích hợp cho giống dƣa chuột GL1-2. - Kết quả của đề tài góp phần mang lại hiệu quả để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ dƣa chuột của Tỉnh Thái Nguyên cũng nhƣ các Tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và cả nƣớc. c 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Thời vụ gieo trồng có ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng sinh trƣởng, phát triển và năng xuất của cây dƣa chuột.
Cây dƣa chuột sinh trƣởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ cao. Tuy nhiên, tùy từng thời kỳ mà cây dƣa chuột có những yêu cầu khác nhau. Việc bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo các yếu tố khí hậu thời tiết phù hợp với yêu cầu sinh trƣởng của cây [8]. Thời vụ gieo trồng thích hợp là thời vụ thuận lợi cho việc gieo trồng mà đảm bảo cho cây trồng phát triển tốt,cho năng suất cao, đồng thời đảm bảo cho giai đoạn sinh trƣởng cây không trùng với thời gian phát triển mạnh nhất của dịch hại.
Thời vụ thích hợp cho từng loại cây trồng ở mỗi địa phƣơng dƣa vào điều kiện thời tiết khí hậu, đặc điểm phát sinh và phá hoại của các dịch hại chính trên từng cây trồng ở địa phƣơng tập quán, kinh nghiệm trồng trọt của nông dân địa phƣơng. Thời vụ gieo trồng thích hợp là biện pháp canh tác phòng trừ dịch hại có hiệu quả chỉ khi đƣợc áp dụng đồng loạt trên quy mô tƣơng đối rộng [11]. Trong sản xuất nông nghiệp, thời vụ có vai trò hết sức quan trọng góp phần nâng cao năng suất và sản lƣợng cây trồng. Vì vậy, ngoài biện pháp kĩ thuật canh tác, giống cây trồng, việc xác định thời vụ trồng cũng ảnh hƣởng khá lớn đến khả năng sinh trƣởng, phát triển và năng suất của cây dƣa chuột.
Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa chuột trên thế giới Dƣa chuột là loại cây trồng quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Quả dƣa chuột ngoài đƣợc sử dụng làm rau ăn còn là nguyên liệu trong các ngành công nghiệp chế biến đồ hộp, dƣợc phẩm… Những nƣớc dẫn đầu về diện tích gieo trồng và năng suất là: Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Ai Cập và Tây Ban Nha [12]. Diện tích dƣa chuột trên toàn thế giới năm 2014 đạt 21,79 triệu ha, năng suất bình quân 34,41 tấn/ha, sản lƣợng 749,76 triệu tấn.
Diện tích, năng suất và sản lƣợng dƣa chuột trên thế giới 5 năm gần đây đƣợc thể hiện qua bảng 2.1 dƣới đây: Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng dưa chuột trên thế giới từ năm 2010 - 2014 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2010 20,20 30,99 626,11 2011 21,03 31,56 663,82 2012 21,33 32,61 695,80 2013 21,28 33,86 720,59 2014 21,79 34,41 749,75 (Nguồn: FAOSTAT, 2016) [20] Qua bảng số liệu 2.1 ta thấy: Tình hình sản suất dƣa chuột trên thế giới qua các năm có sự tăng đáng kể cả về diện tích, năng suất và sản lƣợng. Từ năm 2010 đến năm 2014 tổng diện tích trồng dƣa chuột đã tăng 1,59 triệu ha, năng suất tăng 3,42 tấn/ha và sản lƣợng tăng rất nhanh từ c 6 626,11triệu tấn năm 2010 lên 749,75 triệu tấn năm 2014, tăng 123,64 triệu tấn. Ta có thể nhận thấy diện tích năm 2014 tăng so với năm 2013 là 0,51 triệu ha, năng suất tăng 0,55 tấn/ha, sản lƣợng tăng 29,16 triệu tấn. Qua đó ta thấy rằng cây dƣa chuột đang dần mở rộng về diện tích và tăng cả về năng suất và sản lƣợng để có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng và phát triển các ngành công nghiệp.2: Diện tích, năng suất, sản lượng dưa chuột của các nước trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Vùng trồng (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Toàn thế giới 21,79 34,41 749,75 Châu Phi 2,54 4,49 11,25 Algeria 0,50 4,00 8,20 Cameroon 2,08 1,12 2,35 Niger 0,02 0,25 0,45 Châu Mỹ 0,94 22,57 21,37 Colombia 0,02 1,59 2,57 Peru 0,03 1,81 4,73 Mexico 0,17 4,21 7,07 Canada 0,02 1,19 2,66 Châu Á 16,38 39,98 655,07 Indonesia 4,86 9,84 47,80 Thái Lan 1,82 9,60 17,48 Ấn Độ 2,69 6,34 17,11 Trung Quốc 11,80 48,18 560,90 (Nguồn: FAOSTAT, 2016 )[20] Trên thế giới dƣa chuột cũng đƣợc coi là một trong những loại rau quan trọng, đƣợc trồng khá phổ biến.
Năm 2014 điện tích trồng dƣa chuột của thế giới là 21,79 triệu ha, năng suất đạt 34,41 tấn/ha và sản lƣợng đạt 749,75 triệu tấn. Trong đó Châu Á là khu vực có diện tích, năng suất và sản lƣợng cao nhất. Năm 2014 diện tích trồng dƣa chuột của Châu Á lên tới 16,38 triệu ha, sản lƣợng đạt 655,07 triệu tấn, ở Châu Á thì Trung Quốc là nƣớc có diện tích c 8 trồng lớn nhất là 11,80 triệu ha, năng suất và sản lƣợng cũng rất cao tƣơng ứng là 48,18 tấn/ha; 560,90 triệu tấn. Năm 2014, tổng diện tích trồng dƣa chuột của Châu Phi là 2,54 triệu ha, năng suất đạt 4,49 tấn/ha và tổng sản lƣợng đạt 11,25 triệu tấn.
Ở Châu Phi diện tích trồng dƣa chuột của các nƣớc là khá thấp, trong đó cao nhất là nƣớc Cameroon tổng diện tích dƣa chuột là 2,08 triệu ha, năng suất đạt 1,12 tấn/ha và sản lƣợng đạt 2,35 triệu tấn. Trong 3 châu lục thì Châu Mỹ là châu lục có diện tích trồng dƣa chuột thấp nhất, năm 2014 tổng diện tích trồng dƣa chuột của cả Châu Mỹ chỉ đạt 0,94 triệu ha, nhƣng năng suất khá cao đạt 22,57 tấn/ha và sản lƣợng đạt 21,37 triệu tấn. Trong đó Mexico là nƣớc có diện tích trồng lớn nhất với 0,16 triệu ha; sản lƣợng đạt 7,07 triệu tấn. Tuy dƣa chuột đƣợc trồng rất phổ biến trên thế giới nhƣng nó thích hợp nhất với khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm nên Châu Á là khu vực nó phát triển mạnh nhất và ngày càng đƣợc mở rộng.