ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, chăn nuôi trở thành một ngành nghề quan trọng trong nền kinh nước ta. Ngành chăn nuôi không những góp phần cung cấp thực phẩm trong nước mà còn đóng góp một phần trong xuất khẩu. Trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi tập trung thì thức ăn cho gia súc, gia cầm giữ vai trò quyết định trong việc tạo giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm chăn nuôi. Trong những năm gần đây, gia súc nhai lại (trâu, bò, dê) được nhiều người chọn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa.
Các sản phẩm tạo ra từ loại gia súc này có giá trị cao và ít bị biến động. Về thức ăn thì nhân dân có thể tự tìm kiếm được cho nên nó đã mang lại lợi nhuận cao cho người nông dân. Chính lợi nhuận cao nên nó được nhiều người chọn nuôi vì thế vào mùa khô thì vấn đề thiếu thức ăn xanh diễn ra nghiêm trọng hơn. Để giải quyết vấn đề này thì không còn cách nào khác hơn ngoài việc trồng cỏ.
Vấn đề đặt ra là phải cần trồng giống cỏ gì? Thích hợp với loại đất nào? Để có năng suất cao và chất lượng là vấn đề rất quan trọng. Xuất phát từ thực tế trên, dưới sự giúp đỡ của bộ môn chăn nuôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ sả với các mức độ phân bón khác nhau”.Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Trung tâm Mục tiêu của đề tài là tìm ra mức độ phân bón phù hợp để thu được năng suất cao nhất và chất lượng tốt nhất. Nhằm giải quyết tốt vấn đề thức ăn xanh phục vụ cho chăn nuôi ngày càng phát triển. Footer Page 12 of 133.
Header Page 13 of 133. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Một số đặc điểm của cỏ sả 2.1 Nguồn gốc và phân bố 2.1 Nguồn gốc Cỏ sả có tên khoa học là: Panicum maximum. Các tên riêng khác của cỏ sả ở là: Herbed Guinée, Gand mil, Mil de Guinée, Pasto Guinea.Các tên riêng khác của cỏ sả ở nước ta là: cỏ Sữa Nghệ An, cỏ Ghinê, cỏ Tây Nghệ An, cỏ Nghệ An… Cỏ sả có nguồn gốc từ vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Phi.2 Phân bố Hiện nay, cỏ được trồng phổ biến ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới tương đối ẩm trên thế giới (lượng mưa 900-1800 mm) như: các nước Nam Mỹ, phía Tây Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á. Ở nước ta được trồng đầu tiên ở Phủ Liễn_Hải Phòng năm 1960.
Sau đó lan tràn khắp nơi và trở thành cỏ mọc tự nhiên. Ở Miền Nam cỏ sả được trồng vào năm 1975.2 Đặc điểm sinh học Cỏ sả thuộc họ hòa thảo chỉ sinh nhánh và mọc thành bụi lớn, dày, thân to khỏe, thẳng đứng, hơi dẹt, phân nhánh có dạng hình phểu, Cỏ sả cao tới 1,8 – 2,2 m, thân và lá rất mềm. Lá hình dải, màu xanh biếc dài và rộng, có nhiều lông tơ ở gốc, gân giữa nổi rõ, mép lá có một hàng lông dài, mặt lá hơi nhám tay khi ta vuốt ngược, bẹ lá dài khoảng 30 Trung tâmcm.Học Tỉ lệ liệu lá trênĐH thân Cần là 1/7. Thơ Cụm hoa @ dạng Tài tán dàyhọc liệu đặc, dài tập40vàcm,nghiên cỏ ra hoa cứu từ tháng 6 đến tháng 12.
Cỏ sả có bộ rễ khỏe, ăn sâu vào đất nên có khả năng chịu hạn tốt. Cỏ sả thích hợp với những vùng có lượng mưa từ khoảng 900 mm trở lên. Cỏ sả có khả năng chịu úng kém. Vì vậy thích hợp với những vùng có khả năng thoát nước tốt.
Cỏ sả có khả năng chịu bóng tốt cho nên có thể trồng được dưới tán cây to hoặc cây bụi. Cỏ sả ưa đất xốp, tơi, giàu mùn và cỏ sả phát triển tốt nhất ở những vùng đất có độ màu mỡ từ trung bình trở lên. Nhưng có khả năng thích hợp với nhiều loại đất khác nhau như: những vùng đất dốc, nhiều đá nhưng không cho năng suất cao. Năng suất trung bình của cỏ sả trong mùa mưa là 150- 200 tấn/ha.
Trồng thâm canh có thể đạt 280 -300 tấn/ha. Cỏ sả có thân mềm, nhiều lá cho nên gia súc thích ăn. Khả năng cạnh tranh với các loại cây khác: Cỏ sả có khả năng cạnh tranh với cỏ dại và có khả năng chịu giẫm đạp tốt. Nhiều nơi, người ta trồng cỏ sả để chăn thả.
Nhưng tốt nhất nên chăn thả gia súc khi cỏ cao được từ 15-22 cm. Giá trị dinh dưỡng của cỏ sả rất cao khi cây cỏ còn non, nhiều lá và sẽ giảm súc nhanh chóng theo với lứa tuổi của cỏ. Vì có nhược điểm là thân hóa gỗ nhanh.Thời gian trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa (bảo đảm tỷ lệ sống cao). Trồng một lần, thu hoạch trong 4 -5 năm hoặc dài hơn.
Footer Page 13 of 133. Header Page 14 of 133. Sau đây là các giống cỏ sả phổ biến ở Việt Nam Cỏ sả TD 58 (Panicum maximum cv TD 58) Là một dòng cỏ sả có lá màu xanh sẫm, thân và gốc màu xanh tím, hạt có màu xanh tím, được trồng rất nhiều ở Thailand, nhất là vùng Đông Bắc. Cỏ có thể sống sót được ở những vùng có mùa khô kéo dài nhưng phát triển tốt ở những vùng có mùa khô ngắn hoặc không có mùa khô.
Cỏ phát triển tốt ở những vùng đất tốt và được bón phân. Cỏ có khả năng tái sinh rất nhanh. Cỏ sả TD 58 được đưa vào Việt Nam từ năm 1995. Cỏ dễ thích nghi, dễ trồng, cho năng suất chất xanh cao, chất lượng tốt, gia súc ăn ngon miệng.
Đặc biệt thân lá rất mềm, tỉ lệ lá/thân khoảng 65%, ra bông một lần trong năm vào khoảng tháng 10, dễ thu hạt và cho năng suất hạt cao, chất lượng hạt tốt. Năng suất chất xanh của cỏ đạt 170 - 220 tấn/ha (mùa mưa), thâm canh có thể đạt tới 300 – 320 tấn/ha/năm, năng suất hạt đạt 300 –350 kg/ha. Cỏ có thể nhân giống bằng hạt và bằng thân gốc đều tốt. Cỏ sả Common và Ciat 673 (P.
cv common và P. cv Ciat 673) Cỏ này lá màu xanh, gốc, thân và hạt có màu xanh đậm Cỏ được đưa vào nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi Sông Bé từ năm 1993 đến năm 1996 chính thức phát triển 2 dòng cỏ này ra sản xuất. Năng suất cỏ thu đựợc trung bình trong mùa mưa là 140 -170 tấn/ha. Trồng thâm canh có thể đạt 180 –200 tấn/ha.
Cỏ Common và Ciat 673 có thân lá mềm, bẹ lá to, tỷ lệ lá/thân khoảng 60%, có tính ngon miệng cao nên gia súc thích ăn. Cỏ này ra bông nhiều lần trong năm nên có thể thu hạt nhiều lần, năng suất hạt cao từ 250 - 300kg/ha, hạt chắc nhiều và tỷ lệ nảy mầm cao. Đặc điểm Trung tâm Học ra bông liệunhiều ĐH lần trongThơ Cần năm cũng @ Tàilà mộtliệu hạn chế họccủatập giống vàcỏnghiên này vì khi cứu cỏ ra bông chất lượng cỏ giảm đi rất nhanh. Cỏ sả K 280 Là giống cỏ sả cỏ thân thấp lá nhỏ, năng suất thấp hơn các giống kể trên nhưng có khả năng phát triển ở những vùng đất ít màu mỡ.
Đặc điểm nổi bật của cỏ sả K280 là khả năng chịu hạn tốt. Cỏ thích hợp với những vùng đất đồi, ít dinh dưỡng và có mùa khô kéo dài.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thức ăn xanh của cỏ sả Kỹ thuật canh tác Việc làm sạch cỏ dại và làm đất kỹ là quan trọng bậc nhất, đến khi cây phát triển muốn duy trì thảm cỏ phải có chế độ phân bón vừa phải, nên thu cắt hoặc chăn thả hợp lý. Thời gian thu hoạch có ảnh hưởng đến hàm lượng dưỡng chất có trong cỏ, năng suất của cỏ, sự tồn tại lâu dài hoặc chống tàn lụi của cỏ. Cây cỏ từ khi trồng thì năng suất, thành phần dưỡng chất sẽ tăng theo tuổi và đến khi có bông kết hạt thì giảm dần.
Số lượng nước: tỷ lệ nước của cỏ non cao hơn cỏ già nhiều. Vì vậy nếu thu hoạch lúc cỏ quá non, không những dưỡng chất của cỏ kém mà khi cho gia súc ăn, gia súc dễ bị tiêu chảy. Ngược lại nếu cỏ quá già thì dưỡng chất của cỏ kém và nhiều xơ. Footer Page 14 of 133.
Header Page 15 of 133. Theo khuyến cáo của Nguyễn Văn Tuyền (1975) nên thu hoạch cỏ hoà thảo lúc cỏ sắp ra bông hoặc ra bông khoảng 5% tổng số cây trên đồng cỏ, đối với cây họ đậu nên thu hoạch lúc trổ bông tỷ lệ đạt 80% tổng số cây. Phân bón Đạm Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của protein, chất tiêu biểu cho sự sống. Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc thu hút các yếu tố dinh dưỡng khác, là nguyên tố cần thiết cho sự phân bào và phát triển của cây.
Đạm làm tăng diện tích và khối lượng nguyên sinh chất trong cây. Cây trồng được bón đạm hợp lý, lá cây xanh thẫm, sinh trưởng khỏe mạnh, chồi phát triển mạnh, năng suất cao. Tuy nhiên bón thừa đạm, tỷ lệ nước trong cây cao, cây dễ bị mắc bệnh, dễ đổ, thời gian sinh trưởng kéo dài, phẩm chất nông sản kém (Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó, 2005). Urê là loại phân đạm ở thể vô cơ cung cấp nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho nhiều loại cây trồng và không làm bỏng cây (Lê Văn Căn, 1960).
Phân này có hàm lượng đạm nguyên chất là 46%, phân không chua nên có thể bón tốt cho mọi vùng đất, các vùng đất có độ chua khác nhau. Lân Giúp phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein Trung tâm Giúp rễliệu Học dễ phát ĐHtriển, Cần đẻ nhánh Thơnhiều, @ Tàigóp phần liệugia họctăngtập năngvà suấtnghiên cứu Thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả, quyết định phẩm chất hạt giống Hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm Làm tăng độ vững chắc cho thân cây, chống đổ cho thân cây Cải thiện chất lượng sản phẩm nhất là rau và cỏ làm thức ăn cho gia súc Cây thiếu lân sinh trưởng chậm, cây nhỏ, đẻ nhánh kém. Ít di chuyển trong đất và ít bị rửa trôi (Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó, 2005). Đối với cây họ đậu, lân góp phần giúp cây sinh ra nốt sần giúp tăng khả năng hút đạm khí trời, bón lân sẽ giúp cây trồng sử dụng đạm tốt hơn.