CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Chương này tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước có liên quan đến thực hành nông nghiệp tốt, từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu của luận án. Các nghiên cứu nước ngoài Khái niệm “thực hành nông nghiệp tốt” xuất hiện trên thế giới từ cuối những năm 1990 bởi Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (Food and Agriculture Organization of The United Nations - FAO) trong bối cảnh nền kinh tế thực phẩm toàn cầu hóa nhanh chóng (Mushobozi, 2010). GAP là kết quả của các mối quan tâm và những cam kết về sản xuất và an ninh lương thực, an toàn và chất lượng thực phẩm và tính bền vững môi trường nông nghiệp của nhiều bên liên quan. Giới nghiên cứu và các nhà quản lý thực tiễn đã rất chú trọng tới việc giải quyết câu hỏi quan trọng của quản lý: “Làm thế nào để duy trì và nhân rộng sản xuất nông sản áp dụng GAP nhằm đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm?”.
Các nghiên cứu cho thấy có hai nhóm yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc áp dụng GAP của các cơ sở sản xuất nông sản: (1) nhóm yếu tố bên trong như các đặc điểm của cơ sở sản xuất và (2) nhóm yếu tố bên ngoài như các quy định về an toàn thực phẩm của nhà nước, yêu cầu của thị trường, quan hệ đối tác chiến lược giữa các tác nhân trong chuỗi sản xuất nông sản. Các công trình tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính: (1) Nghiên cứu cả hai nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài cơ sở ảnh hưởng tới việc áp dụng GAP; và (2) nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với việc áp dụng GAP. Nghiên cứu cả hai nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài cơ sở ảnh hưởng tới việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt Hướng nghiên cứu thứ nhất phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài cơ sở ảnh hưởng tới việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trong sản xuất nông sản nói chung, sản xuất rau nói riêng nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và thực hành. 15 sản xuất thân thiện với môi trường.
Một số nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này như Sriwichailamphan và cộng sự (2008), Zhou và Jin (2009), Jayasinghe-Mudalige (2005), Holleran và cộng sự (1999) và Hobbs (2003). Sriwichailamphan và cộng sự (2008) đã nghiên cứu tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trong canh tác dứa tại Thái Lan. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong xây dựng và phân tích mô hình hồi quy áp dụng cho một mẫu gồm 350 người trồng. Có hai câu hỏi nghiên cứu cần trả lời là: (1) những người trồng dứa có áp dụng GAP hay không? Và (2) đặc điểm của người trồng dứa đã áp dụng GAP và các yếu tố kinh tế khác ảnh hưởng đến cơ hội hoặc khả năng áp dụng GAP là gì? Mô hình logit được sử dụng để phân tích biến phụ thuộc nhị phân cho biết người trồng dứa có áp dụng GAP hay không.
Các biến độc lập ảnh hưởng đến quyết định áp dụng GAP của người trồng dứa bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm của người trồng dứa, sản lượng bình quân, giá sản phẩm nông nghiệp trung bình, người trồng dứa có hợp đồng với công ty dứa đóng hộp hay không, người trồng tiên tiến hay truyền thống, có đồng ý với những nguyên tắc an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu dứa không, áp dụng GAP vì luật bắt buộc hay không, áp lực từ người mua, áp lực từ các tổ chức phi chính phủ, áp lực từ hiệp hội những người trồng dứa, sự quan tâm đến môi trường. Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố bên ngoài có tác động quan trọng như giá trung bình sản phẩm nông nghiệp, có hợp đồng đầu ra với các công ty, các yêu cầu về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu. Bên cạnh đó các yếu tố thuộc về cơ sở như sản lượng bình quân, tuổi của người trồng, là một nông dân tiến bộ và sự quan tâm đến môi trường của người trồng cũng có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định áp dụng GAP. Khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn an toàn và chất lượng thực phẩm của các hợp tác xã nông nghiệp Trung Quốc được xem như một biện pháp hữu hiệu thay thế cho việc giám sát quá trình sản xuất của những hộ nông dân nhỏ, qua đó vẫn đảm bảo nâng cao chất lượng của các thực phẩm do họ sản xuất (Zhou và Jin, 2009).
Dựa trên dữ liệu điều tra từ 124 hợp tác xã trồng rau ở tỉnh Chiết Giang,. 16 nghiên cứu này đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn và chất lượng thực phẩm của các hợp tác xã nông nghiệp ở Trung Quốc. Mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc là biến nhị phân về việc có hay không áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm và các biến độc lập được giả định là có ảnh hưởng đến quyết định áp dụng như: quy mô hợp tác xã, tính đổi mới, nhận thức, danh tiếng, chi phí và lợi ích dự kiến, giá cao, thu hút khách hàng, có thị trường đầu ra và sự ủng hộ từ người mua. Nghiên cứu vận dụng phương pháp định lượng xây dựng hàm hồi quy cho kết quả là các yếu tố gồm: quy mô hợp tác xã, nhận thức và thái độ đối với các tiêu chuẩn, danh tiếng, chi phí và lợi ích dự kiến và có thị trường đầu ra có tác động tích cực tới việc các hợp tác xã quyết định áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Jayasinghe-Mudalige (2005) đã tiến hành phân tích thực nghiệm các động lực kinh tế ảnh hưởng tới việc áp dụng các kiểm soát an toàn thực phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thực phẩm Canada. Tác giả đã kết hợp sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Phân tích định tính nhằm xác định các động lực để các doanh nghiệp áp dụng các kiểm soát an toàn thực phẩm nâng cao. Nghiên cứu chỉ ra các động lực phổ biến ở cấp độ doanh nghiệp bao gồm: tác động đến chi phí/tài chính, tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, hiệu quả quy trình sản xuất, là một “thực hành tốt”, doanh thu, danh tiếng, áp lực thương mại, quy định của Chính phủ hiện có, quy định của Chính phủ dự kiến và Luật Trách nhiệm.
Phương pháp định lượng được thực hiện trên dữ liệu thu thập từ một điều tra trên toàn quốc thông qua bảng hỏi nhằm đánh giá tính độc lập của các động lực được giả thuyết và để định lượng mức độ mà các động lực này ảnh hưởng đến hành vi áp dụng kiểm soát an toàn thực phẩm của doanh nghiệp. Trong mô hình nghiên cứu, tác giả cũng đã đưa ra một số biến về đặc điểm của doanh nghiệp và thị trường doanh nghiệp hoạt động. Trái ngược với phát hiện từ các phân tích có xu hướng quá nhấn mạnh vai trò của quy định của chính phủ và những hạn chế của thị trường, nghiên cứu này cho rằng các động lực dựa trên thị trường như: nhận thức về việc áp dụng các kiểm soát an toàn thực phẩm nâng cao là một “thực hành tốt”; doanh thu;. 17 danh tiếng; hiệu quả sản xuất; và áp lực thương mại, đóng vai trò lớn hơn quy định (các quy định của chính phủ hiện có và dự kiến) và động lực trách nhiệm.
Tuy nhiên, tác động của các động lực là rất khác nhau giữa các doanh nghiệp được đăng ký cấp liên bang và các doanh nghiệp được tỉnh cấp giấy phép. Các kết quả cho thấy các hệ thống quy định phải dựa trên việc khuyến khích nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cấp các kiểm soát an toàn thực phẩm của họ. Thách thức đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách là phải vượt qua các quy định truyền thống và thực hiện một hệ thống quản lý đủ linh hoạt thể hiện được những khác biệt trong việc khuyến khích từng doanh nghiệp. Holleran và cộng sự (1999) cho rằng động lực để các công ty áp dụng các kiểm soát an toàn thực phẩm xuất phát từ cả hai loại động lực bên trong công ty và động lực bên ngoài từ phía khách hàng và quy định.
Các tác giả chỉ ra các động lực bên trong bao gồm các chi phí và lợi ích gắn liền với quá trình hoạt động của một công ty áp dụng kiểm soát an toàn thực phẩm. Ví dụ như cải thiện việc kiểm soát các hoạt động của công ty, giảm tỷ lệ phế phẩm và thiết lập các quy trình biện pháp khắc phục. Áp lực từ các nhà cung cấp và khách hàng, môi trường pháp lý, và mức độ mà công ty thâm nhập vào thị trường thực phẩm chỉ là một số trong những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định của công ty. Từ quan điểm thực nghiệm, cách phân loại các động lực như trên có chút phức tạp vì các động lực bên trong đã nêu có thể bắt nguồn từ các động lực bên ngoài.
Ngoài ra, các động lực áp dụng GAP của người trồng còn có thể được chia thành các động lực về kinh tế, về pháp lý và về vốn con người (Hobbs, 2003). Các động lực kinh tế bao gồm tăng và ổn định doanh thu, giảm chi phí trung bình, cải thiện việc tiếp cận thị trường, tăng giá vốn tài sản cố định, giảm rủi ro cho hoạt động nông nghiệp của người nghèo; động lực pháp lý bao gồm những thay đổi trong quyền sở hữu, thuế, trách nhiệm pháp lý, các khen thưởng; và các động lực về nguồn nhân lực bao gồm việc tiếp cận những kỹ năng mới. Khi nghiên cứu về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt, quan hệ đối tác chiến lược giữa các tác nhân trong chuỗi sản. 18 xuất nông sản được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu, chẳng hạn như Wannamolee (2008), Mushobozi (2010), Jiao và cộng sự (2010), Henson và Northen (1998).
Các nghiên cứu này chỉ ra việc áp dụng GAP trong sản xuất nông sản nói chung, rau an toàn nói riêng là kết quả từ quan hệ đối tác chiến lược giữa các tác nhân trong chuỗi sản xuất nông sản nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường. Các tác nhân của ba công đoạn sản xuất, chế biến và tiêu thụ trong chuỗi giá trị nông sản bao gồm: nhà sản xuất, nhà chế biến và nhà tiêu thụ.